Luận văn Sằm Huy Thức: Tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 THPT Bắc Kạn

Luận văn tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu cho học sinh THPT Bắc Kạn trong dạy học Sinh thái học Sinh học 12, nâng cao nhận thức.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2019

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Giới hạn của đề tài

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Những đóng góp mới của luận án

9. Cấu trúc của luận văn

1. CƠ SỞ LÍ LUÂN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Lịch sử nghiên cứu về tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học ở trung học phổ thông

1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Tích hợp và dạy học tích hợp

1.3. Biến đổi khí hậu và giáo dục biến đổi khí hậu

1.4. Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học Sinh học ở trung học phổ thông

1.5. Chủ đề và dạy học theo chủ đề

1.6. Cơ sở thực tiễn

1.6.1. Điều tra thực trạng dạy học theo CĐ ở một số trường THPT tại tỉnh Bắc Kạn

1.6.2. Điều tra thực trạng dạy học tích hợp giáo dục BĐKH qua môn Sinh học ở trường THPT trong tỉnh Bắc Kạn

1.7. Kết luận chương 1

2. TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC KẠN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC - SINH HỌC 12

2.1. Phân tích cấu trúc nội dung phần sinh thái học - sinh học 12

2.1.1. Cấu trúc nội dung

2.1.2. Tiềm năng GDBĐKH trong dạy học phần STH - SH 12

2.1.3. Đặc điểm sinh thái tỉnh Bắc Kạn - Cơ hội để dạy học tích hợp GDBĐKH cho học sinh

2.2. Biện pháp tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học phần sinh thái học - sinh học 12

2.2.1. Sử dụng bài tập tình huống thực tiễn

2.2.2. Sử dụng biện pháp đóng vai

2.2.3. Dạy học theo dự án

2.2.4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm

2.3. Xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp GDBĐKH cho học sinh THPT tỉnh Bắc Kạn trong dạy học phần sinh thái học - sinh học 12

2.3.1. Nguyên tắc xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp GDBĐKH trong dạy học phần sinh thái học - sinh học 12

2.3.2. Quy trình chung xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề tích hợp GDBĐKH trong phần sinh thái học - sinh học 12

2.3.3. Vận dụng quy trình vào thiết kế KHDH và tổ chức DH chủ đề tích hợp GDBĐKH trong DH STH - SH12

2.4. Đánh giá NL vận dụng kiến thức

2.4.1. Tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức GQVĐ của HS

2.4.2. Bộ công cụ đánh giá năng lực VDKT

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2. Nhiệm vụ thực nhiệm sư phạm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Đối tượng thực nghiệm

3.5. Địa điểm nghiên cứu thực nghiệm

3.6. Thời gian thực nghiệm

3.7. Phương pháp thực nghiệm

3.8. Kết quả thực nghiệm

3.8.1. Kết quả trước thực nghiệm

3.8.2. Kết quả sau thực nghiệm

3.9. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Chiến lược Tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 hiệu quả

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức về môi trường ngày càng cấp bách, việc tích hợp Giáo dục Biến đổi Khí hậu (GDBĐKH) vào chương trình học trở nên thiết yếu. Đặc biệt, môn Sinh thái học Sinh học 12 tại các trường THPT Bắc Kạn nắm giữ vai trò chiến lược trong việc trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để ứng phó biến đổi khí hậu. Sáng kiến này không chỉ nhằm mục đích truyền đạt tri thức mà còn hướng đến việc hình thành những công dân có ý thức về môi trường sống, khả năng giải quyết vấn đề và tham gia vào quá trình phát triển bền vững của đất nước.

Việt Nam, với bờ biển dài và địa hình đa dạng, là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu nặng nề nhất. Theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển Bền vững năm 2002, hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu tác động trực tiếp đến sự sinh tồn của loài người, gây hại đến tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và đa dạng sinh học [10]. Các hiện tượng như nóng lên toàn cầu, băng tan, nước biển dâng, mưa bão, lũ lụt, hạn hán đang diễn ra ngày càng thường xuyên và khốc liệt. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyênbảo vệ môi trường”, khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ [24-NQ/TW].

Môn Sinh học phổ thông, đặc biệt là phần Sinh thái học lớp 12, cung cấp nền tảng khoa học vững chắc để học sinh hiểu về mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường, cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, cũng như các quy luật tự nhiên chi phối sự sống. Đây là cơ hội vàng để tích hợp GDBĐKH, giúp học sinh nhận diện nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của biến đổi khí hậu thông qua lăng kính khoa học. Việc lồng ghép không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn thúc đẩy tư duy phản biện, kĩ năng sống xanh và trách nhiệm công dân. Thông qua các chuyên đề Sinh học 12 được thiết kế sáng tạo, học sinh THPT Bắc Kạn sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của mình trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng một tương lai bền vững.

1.1. Tầm quan trọng của Biến đổi khí hậu và Giáo dục môi trường

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Sự gia tăng khí thải nhà kính từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải đang làm Trái Đất nóng lên, kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng như nước biển dâng cao, thiên tai cực đoan và sự suy giảm đa dạng sinh học. Theo báo cáo, từ năm 1996-2016, thiên tai do BĐKH đã cướp đi sinh mạng của 520.000 người và gây thiệt hại kinh tế ước tính 3 nghìn tỷ USD toàn cầu [10, 39]. Việt Nam được dự đoán sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, với kịch bản 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập nếu nước biển dâng 1m [36]. Để ứng phó biến đổi khí hậu hiệu quả, Giáo dục môi trường đóng vai trò then chốt. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai kế hoạch hành động nhằm đưa nội dung ứng phó BĐKH vào tất cả các cấp học, từ mầm non đến đại học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi. Mục tiêu là trang bị cho người học kiến thức, thái độ và hành vi đúng đắn, không gây hoảng sợ mà thúc đẩy niềm tin vào khả năng bảo vệ khí hậuthích ứng biến đổi khí hậu thành công [3].

1.2. Mối liên hệ Sinh thái học và Phát triển bền vững

Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường và giữa các sinh vật với nhau, cung cấp nền tảng để hiểu về cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái. Kiến thức này là trụ cột cho việc thực hiện phát triển bền vững, một khái niệm yêu cầu cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Việc hiểu rõ về sinh quyển, quần thể sinh vật, quần xã sinh vật giúp học sinh nhận thức được sự mong manh của môi trường sống và hậu quả của ô nhiễm môi trường cũng như hiệu ứng nhà kính. Thông qua Sinh thái học, học sinh THPT Bắc Kạn có thể thấy rõ cách các hoạt động của con người tác động đến chu trình vật chất và dòng năng lượng trong hệ sinh thái, từ đó dẫn đến biến đổi khí hậu. Việc tích hợp GDBĐKH không chỉ đơn thuần là cung cấp thông tin mà còn là việc khuyến khích học sinh tìm kiếm giải pháp môi trường, phát triển kĩ năng sống xanh và chủ động tham gia vào các hoạt động giảm nhẹ biến đổi khí hậuthích ứng biến đổi khí hậu để hướng tới một tương lai xanh hơn.

II. Thách thức nào khi Tích hợp GDBĐKH Sinh học 12 THPT Bắc Kạn

Mặc dù tầm quan trọng của tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 đã được công nhận rộng rãi, quá trình triển khai tại các trường THPT Bắc Kạn vẫn đối mặt với không ít thách thức. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy mà còn hạn chế khả năng học sinh lĩnh hội đầy đủ các kiến thức và phát triển năng lực ứng phó biến đổi khí hậu. Việc xác định rõ các rào cản là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp phù hợp, đảm bảo rằng giáo dục môi trường thực sự mang lại hiệu quả thiết thực.

Theo kết quả điều tra thực trạng tại các trường THPT tỉnh Bắc Kạn vào tháng 9 năm 2018, nhiều giáo viên còn gặp khó khăn khi thực hiện tích hợp GDBĐKH [Chương 1, Mục 1.8]. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hụt phương tiện dạy học và thời gian dành cho việc lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu vào các bài giảng chính khóa. Tỉ lệ giáo viên thường xuyên áp dụng tích hợp GDBĐKH chưa cao, trong khi phần lớn chỉ thực hiện thỉnh thoảng hoặc hiếm khi [Bảng 1.3]. Điều này cho thấy rằng, mặc dù có nhận thức về lợi ích của GDBĐKH, giáo viên vẫn cần sự hỗ trợ đáng kể về chuyên môn và nguồn lực để triển khai hiệu quả. Việc thiếu hụt tài liệu tham khảo chuyên sâu và sự lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học liên môn cũng là những rào cản cần được khắc phục.

Ngoài ra, đặc điểm địa phương của Bắc Kạn, với nhiều vùng sâu, vùng xa, cũng đặt ra những yêu cầu riêng về tài liệu và cách tiếp cận giáo dục. Học sinh ở những khu vực này có nhiều điều kiện tiếp xúc với môi trường tự nhiên, nhưng lại thiếu cơ hội để gắn kết lý thuyết với thực tiễn thông qua các hoạt động trải nghiệm. Việc khắc phục những thách thức này đòi hỏi một chiến lược đồng bộ, từ việc nâng cao năng lực cho giáo viên, cung cấp đầy đủ tài liệu, đến việc đổi mới phương pháp dạy học để tạo hứng thú và phát triển kĩ năng sống xanh cho học sinh.

2.1. Thực trạng giáo dục biến đổi khí hậu tại Bắc Kạn

Kết quả điều tra 40 giáo viên thuộc 14 trường THPT Bắc Kạn cho thấy, chỉ 20% giáo viên thường xuyên tích hợp GDBĐKH vào môn học, trong khi 50% thỉnh thoảng và 15% ít khi thực hiện [Bảng 1.3]. Điều này phản ánh sự thiếu nhất quán trong việc triển khai giáo dục biến đổi khí hậu tại địa phương. Các giáo viên chủ yếu sử dụng kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa (100%) và khai thác các vấn đề môi trường địa phương (70%) để lồng ghép nội dung [Bảng 1.4, Bảng 1.5]. Tuy nhiên, một hạn chế lớn là thiếu các hoạt động ngoại khóa trực tiếp tìm hiểu môi trường ngoài trời, điều này làm giảm cơ hội cho học sinh trải nghiệm thực tế và phát triển kĩ năng sống xanh. Việc thiếu phương tiện dạy học, không đủ thời gian trên lớp, và thiếu thông tin, kiến thức về biến đổi khí hậu cũng là những khó khăn hàng đầu được giáo viên báo cáo [Bảng 1.6]. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao nhận thức và hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên để tối ưu hóa việc tích hợp GDBĐKH.

2.2. Khó khăn về tài liệu phương pháp dạy học liên môn

Trong quá trình tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 tại THPT Bắc Kạn, giáo viên đối mặt với nhiều trở ngại về tài liệu và phương pháp dạy học liên môn. Theo điều tra, 85% giáo viên gặp khó khăn do thiếu phương tiện dạy học và không đủ thời gian tổ chức các hoạt động tích hợp trên lớp [Bảng 1.6]. Thêm vào đó, 80.25% giáo viên thiếu thông tin và kiến thức chuyên sâu về biến đổi khí hậu, dẫn đến lúng túng khi lựa chọn phương pháp và cách thức tổ chức GDBĐKH (55%) [Bảng 1.6]. Giáo viên mong muốn được hỗ trợ về cách khai thác GDBĐKH trong Sinh học và các biện pháp tổ chức dạy học tích hợp (95-100%) [Bảng 1.7]. Việc thiếu các tài liệu tham khảo chuẩn hóa và hướng dẫn cụ thể về mô hình tích hợp khiến giáo viên phải dựa vào kinh nghiệm cá nhân, làm giảm tính đồng bộ và hiệu quả của việc giáo dục môi trường. Để khắc phục, cần có sự đầu tư vào xây dựng bộ tài liệu chuẩn, tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về phương pháp dạy học liên môn và cung cấp năng lượng tái tạo kiến thức cho giáo viên.

III. Phương pháp tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 tối ưu

Để tối đa hóa hiệu quả của việc tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và sáng tạo. Việc này không chỉ giúp học sinh tại THPT Bắc Kạn nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và thái độ chủ động trước các thách thức của biến đổi khí hậu. Khoa sư phạm tích hợp khuyến khích việc làm cho quá trình học tập có ý nghĩa, gắn kết tri thức với thực tiễn, từ đó hình thành những năng lực cần thiết cho học sinh [47].

Các mô hình tích hợp trong Sinh học phổ thông không nên làm thay đổi đặc trưng môn học, mà cần đạt được mục tiêu kép: vừa truyền đạt kiến thức Sinh học cơ bản, vừa lồng ghép nội dung GDBĐKH. Điều này đòi hỏi sự lựa chọn nội dung giáo dục một cách có chọn lọc và hệ thống, tận dụng tối đa tiềm năng của Sinh thái học – một phân môn vốn có mối liên hệ mật thiết với khoa học môi trường [36, 38]. Giáo viên cần cập nhật kiến thức về biến đổi khí hậu để có thể xác định các bài học có khả năng lồng ghép, liên hệ một cách hợp lý [38, 4].

Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như dạy học dự án, thảo luận nhóm, trò chơi, thực địa và đóng vai sẽ kích thích sự tham gia của học sinh. Các hoạt động này không chỉ giúp các em hiểu rõ hơn về hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường, đa dạng sinh học mà còn rèn luyện kĩ năng sống xanh và khả năng ứng phó biến đổi khí hậu. Đặc biệt, việc liên hệ với các vấn đề môi trường sống tại địa phương Bắc Kạn sẽ làm cho bài học trở nên gần gũi và có ý nghĩa hơn đối với học sinh.

3.1. Mô hình tích hợp trong Chuyên đề Sinh học 12

Việc tích hợp GDBĐKH vào chuyên đề Sinh học 12 đòi hỏi một mô hình tích hợp linh hoạt và phù hợp. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung GDBĐKH có thể được lồng ghép thông qua chương trình chính khóa và ngoại khóa. Trong hình thức chính khóa, giáo viên có thể tích hợp nội dung GDBĐKH trong các bài học trên lớp mà vẫn đảm bảo kiến thức cơ bản và tính logic của môn học. Các hình thức lồng ghép bao gồm: chiếm một vài chương (như ba chương trong phần Sinh thái học liên quan chặt chẽ với GDBĐKH), một hoặc một số bài trọn vẹn (lồng ghép toàn phần), hoặc một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng ghép một phần) [4, 38]. Ngoài ra, giáo viên có thể liên hệ các kiến thức GDBĐKH không có sẵn trong sách giáo khoa nhưng liên quan đến bài học qua giờ giảng. Việc xây dựng mục tiêu dạy học có lồng ghép GDBĐKH, xác định nội dung cụ thể cần tích hợp, và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo mục tiêu kép về kiến thức Sinh họcgiáo dục môi trường.

3.2. Sử dụng bài tập tình huống và phương pháp đóng vai

Để tăng cường tính hấp dẫn và hiệu quả trong việc tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12, phương pháp dạy học sử dụng bài tập tình huống thực tiễnbiện pháp đóng vai là rất hiệu quả. Bài tập tình huống đưa học sinh vào các kịch bản thực tế hoặc giả định, yêu cầu các em huy động kiến thức và kinh nghiệm để giải quyết vấn đề, từ đó phát triển năng lực vận dụng kiến thức. Ví dụ, trong bài “Hệ sinh thái”, giáo viên có thể đưa ra tình huống tranh luận về cấu trúc của hệ sinh tháiquần xã sinh vật, khuyến khích học sinh tự tìm hiểu và kết luận [Ví dụ trong tài liệu].

Phương pháp đóng vai cho phép học sinh hóa thân vào các nhân vật, tái hiện các tình thế trong cuộc sống để hiểu rõ hơn về hậu quả của biến đổi khí hậu và các biện pháp ứng phó. Trò chơi “Nước biển dâng” trong bài “Chu trình nước” là một ví dụ điển hình, giúp học sinh cảm nhận trực quan về tác động của BĐKH đến môi trường sống và sự mất mát nơi cư trú [Ví dụ trong tài liệu]. Các phương pháp dạy học tích cực này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu sắc về ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính mà còn thúc đẩy kĩ năng sống xanh và ý thức bảo vệ môi trường.

IV. Hướng dẫn xây dựng chủ đề Tích hợp GDBĐKH Sinh học 12 THPT

Việc xây dựng các chủ đề tích hợp là một trong những giải pháp trọng tâm để nâng cao chất lượng Tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 tại các trường THPT Bắc Kạn. Chủ đề không chỉ là một đơn vị nội dung kiến thức mà còn là một vấn đề lý luận hay thực tiễn, giúp học sinh giải quyết vấn đề, đồng thời lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện các năng lực cơ bản như giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và tự học [30, 27]. Dạy học theo chủ đề mang bản chất của dạy học tích hợp, gắn nhận thức con người với hiện thực khách quan.

Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp GDBĐKH cần được thực hiện một cách bài bản và khoa học, đảm bảo tính logic và phù hợp với chương trình Sinh học phổ thông. Nó giúp giáo viên tổ chức lại nội dung kiến thức, khai thác tối đa tiềm năng của Sinh thái học để lồng ghép các vấn đề về biến đổi khí hậubảo vệ môi trường. Việc này không chỉ giải quyết sự manh mún trong cách dạy học truyền thống mà còn tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và phát triển kĩ năng sống xanh [15].

Để đảm bảo thành công, các chủ đề cần tập trung vào kiến thức cốt lõi, tạo nên mô hình hoạt động lớp học mới với các hoạt động khám phá mang tính nối tiếp và tích hợp đa chiều. Điều này thúc đẩy sự chủ động của người học, tăng cường tự học cá nhân và sự hợp tác nhóm có hiệu quả. Việc xây dựng và triển khai các chủ đề tích hợp GDBĐKH sẽ là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục môi trường và trang bị cho học sinh THPT Bắc Kạn hành trang vững chắc để ứng phó biến đổi khí hậu và đóng góp vào phát triển bền vững của địa phương.

4.1. Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp GDBĐKH

Để xây dựng chủ đề tích hợp GDBĐKH hiệu quả trong Sinh học 12, giáo viên cần tuân thủ một quy trình xây dựng rõ ràng. Các bước cơ bản bao gồm: Bước 1: Chọn nội dung có thể tổ chức dạy học theo chủ đề tích hợp. Bước 2: Tổ chức lại nội dung học phù hợp với dạy học theo chủ đề. Bước 3: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng. Bước 4: Thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học theo chủ đề. Bước 5: Tổ chức kiểm tra đánh giá [15].

Một quy trình khác bổ sung các bước: Xác định tên và mục tiêu của chuyên đề Sinh học 12, xác định mạch kiến thức và các nội dung tích hợp GDBĐKH, thiết kế các hoạt động học tập và công cụ đánh giá [22]. Quan trọng nhất, việc xây dựng phải đảm bảo tính liên môn, xuyên môn, khai thác các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn giữa các đơn vị kiến thức. Quy trình này giúp giáo viên có một khung sườn để biến các khái niệm trừu tượng về biến đổi khí hậuhệ sinh thái thành những bài học cụ thể, hấp dẫn, giúp học sinh THPT Bắc Kạn dễ dàng tiếp thu và vận dụng.

4.2. Khai thác tiềm năng GDBĐKH từ Sinh thái học

Phần Sinh thái học trong Sinh học 12tiềm năng GDBĐKH to lớn do đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường. Các chương như “Cá thể và quần thể sinh vật”, “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường” cung cấp nền tảng vững chắc để lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu. Học sinh có thể tìm hiểu về cách hiệu ứng nhà kính ảnh hưởng đến quần thể sinh vậtquần xã sinh vật, hoặc tác động của ô nhiễm môi trường đến đa dạng sinh học.

Theo tài liệu, Sinh thái học là khoa học về môi trường sống, nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường, đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết ứng dụng tri thức Sinh thái học vào việc bảo vệ môi trường [Chương 2, Mục 2.2]. Việc khai thác tiềm năng GDBĐKH này đòi hỏi giáo viên phải luôn cập nhật kiến thức về biến đổi khí hậu và biết cách tổ chức học sinh nghiên cứu các sự kiện, khái niệm sinh thái theo cách tiếp cận hệ thống, từ đó phát triển tri thức vì môi trường, bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ và xu hướng hành vi ứng phó biến đổi khí hậu.

V. Ứng dụng tích hợp GDBĐKH Sinh học 12 tại THPT Bắc Kạn

Việc tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 đã và đang được triển khai tại các trường THPT Bắc Kạn, mang lại những kết quả khả quan và bài học kinh nghiệm quý báu. Ứng dụng thực tiễn này không chỉ củng cố kiến thức khoa học mà còn giúp học sinh phát triển ý thức bảo vệ môi trường và năng lực ứng phó biến đổi khí hậu ngay tại địa phương. Đặc thù về hệ sinh tháiđa dạng sinh học phong phú của Bắc Kạn tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt cho việc giảng dạy, biến các khái niệm trừu tượng thành những ví dụ sống động, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh.

Các hoạt động thực nghiệm sư phạm đã chứng minh hiệu quả của phương pháp tích hợp GDBĐKH. Khi được tiếp cận với các chuyên đề Sinh học 12 được thiết kế có mục tiêu kép, học sinh không chỉ hiểu sâu hơn về quần thể sinh vật, quần xã sinh vật mà còn nhận diện được tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên thiên nhiênmôi trường sống. Việc này góp phần hình thành kĩ năng sống xanh, khuyến khích các em tham gia vào các giải pháp môi trường cụ thể, phù hợp với lứa tuổi và điều kiện địa phương. Điều này đặc biệt quan trọng khi Bắc Kạn là một tỉnh có diện tích rừng lớn nhất vùng Đông Bắc, với nhiều loài động thực vật quý hiếm [Chương 2, Mục 2.3].

Những kết quả thực nghiệm cho thấy, các lớp học áp dụng phương pháp tích hợp GDBĐKH đã có sự tiến bộ đáng kể về nhận thức, thái độ và khả năng vận dụng kiến thức so với các lớp đối chứng. Điều này khẳng định tính khả thi và hiệu quả của việc lồng ghép giáo dục môi trường một cách có hệ thống. Từ đó, tạo tiền đề để nhân rộng mô hình, tiếp tục cải tiến phương pháp dạy học liên môn và củng cố cam kết của ngành giáo dục trong việc đào tạo thế hệ tương lai có đầy đủ kiến thức và trách nhiệm để xây dựng một xã hội phát triển bền vững.

5.1. Đặc điểm Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học Bắc Kạn

Bắc Kạn sở hữu một hệ sinh thái đa dạng và phong phú, với 80% diện tích là đồi núi, tạo nên điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đa dạng sinh học. Đây là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất vùng Đông Bắc (chiếm 95,3%), với nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, đóng vai trò là trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật [Chương 2, Mục 2.3]. Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc, và Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ là những minh chứng rõ nét về sự giàu có của tài nguyên thiên nhiên tại đây. Vườn Quốc gia Ba Bể, với phức hệ sông, suối, hồ, rừng trên núi đá vôi, được đánh giá là một trong những Vườn Quốc gia có đa dạng sinh học bậc nhất Việt Nam và có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu địa phương [Chương 2, Mục 2.3]. Đặc điểm sinh thái này cung cấp một phòng thí nghiệm tự nhiên lý tưởng cho học sinh THPT Bắc Kạn để nghiên cứu Sinh thái học và hiểu sâu sắc về mối quan hệ giữa con người, môi trường sống và các vấn đề về biến đổi khí hậu.

5.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm và kĩ năng sống xanh của học sinh

Các kết quả thực nghiệm sư phạm tại THPT Bắc Kạn đã minh chứng rõ ràng hiệu quả của việc tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12. Nghiên cứu của Sằm Huy Thức (2019) cho thấy, khi áp dụng các biện pháp tích hợp GDBĐKH, học sinh ở các lớp thực nghiệm (TN) đạt kết quả học tập tốt hơn đáng kể so với lớp đối chứng (ĐC) về việc lĩnh hội tri thức và năng lực vận dụng kiến thức vào bảo vệ môi trường [Chương 3]. Cụ thể, điểm kiểm tra 15 phút và 1 tiết của lớp TN cao hơn, chứng tỏ học sinh không chỉ nắm vững kiến thức Sinh học mà còn phát triển khả năng giải thích và ứng phó biến đổi khí hậu. Ngoài ra, việc tích hợp còn góp phần hình thành thái độ thân thiện với môi trườngý thức bảo vệ môi trường cho học sinh (95% giáo viên đồng ý) [Bảng 1.8]. Các em cũng trở nên hứng thú hơn với môn học và tăng cường kĩ năng tự học (95%) [Bảng 1.8]. Điều này khẳng định rằng, tích hợp GDBĐKH không chỉ nâng cao chất lượng học tập mà còn xây dựng những công dân có trách nhiệm với môi trường sống và có kĩ năng sống xanh.

VI. Tương lai của Tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12

Nhìn về tương lai, việc tích hợp GDBĐKH Sinh thái học Sinh học 12 không chỉ là một sáng kiến giáo dục mà còn là một chiến lược dài hạn nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ THPT Bắc Kạn đối mặt với những thách thức phức tạp của biến đổi khí hậu. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một thế hệ công dân có đủ kiến thức, kỹ năng và ý chí để hành động vì một hành tinh xanh, hướng tới phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi sự phối hợp liên tục giữa các cấp quản lý giáo dục, nhà trường, giáo viên và cả cộng đồng.

Sự thành công của việc tích hợp GDBĐKH phụ thuộc vào việc liên tục cải tiến chương trình, nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên và tăng cường nguồn lực hỗ trợ. Việc cập nhật các kiến thức mới nhất về biến đổi khí hậu, các giải pháp môi trường tiên tiến như năng lượng tái tạo và các chính sách ứng phó biến đổi khí hậu là vô cùng cần thiết. Giáo viên cần được tạo điều kiện để tiếp cận các khóa tập huấn chuyên sâu về phương pháp dạy học liên môn và cách thức khai thác hiệu quả tiềm năng GDBĐKH từ Sinh thái học.

Ngoài ra, việc khuyến khích các hoạt động ngoại khóa, dự án cộng đồng và nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ chuyên đề Sinh học 12 sẽ giúp học sinh THPT Bắc Kạn không chỉ học lý thuyết mà còn được thực hành, trải nghiệm. Những hoạt động này củng cố kĩ năng sống xanh, khơi dậy niềm đam mê khoa học và trách nhiệm với môi trường sống. Bằng cách này, môn Sinh học phổ thông sẽ không chỉ là một môn học đơn thuần mà trở thành công cụ mạnh mẽ để giáo dục thế hệ tương lai về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và xây dựng một sinh quyển hài hòa, thịnh vượng.

6.1. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu

Mục tiêu cốt lõi của tích hợp GDBĐKH là nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và năng lực ứng phó biến đổi khí hậu cho học sinh. Thông qua Sinh thái học Sinh học 12, học sinh được trang bị kiến thức về nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của biến đổi khí hậu, cùng với các giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu (như sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm tài nguyên) và thích ứng biến đổi khí hậu (như bảo vệ đa dạng sinh học, quản lý tài nguyên nước). Mục tiêu cụ thể bao gồm: trang bị kiến thức cơ bản về khí hậu, khí nhà kính, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên; phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức Sinh học để giải thích các hiện tượng BĐKH; và hình thành thái độ tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động tuyên truyền và ứng phó biến đổi khí hậu phù hợp với lứa tuổi [Chương 1, Mục 1.4]. Học sinh cần được khuyến khích phát triển kĩ năng sống xanh và trở thành những tuyên truyền viên tích cực trong gia đình, nhà trường và cộng đồng tại Bắc Kạn.

6.2. Hướng tới phát triển bền vững qua môn Sinh học phổ thông

Môn Sinh học phổ thông, với phần Sinh thái học đặc biệt, đóng vai trò cầu nối quan trọng trong việc hướng tới phát triển bền vững. Bằng cách cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ sinh thái, sinh quyển và các chu trình tự nhiên, Sinh học 12 giúp học sinh hiểu rõ hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và môi trường sống. Việc tích hợp GDBĐKH không chỉ là một yêu cầu cấp bách mà còn là một cơ hội để giáo dục học sinh về cách hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Theo Nghị quyết số 24-NQ/TW, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt, kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu [24-NQ/TW]. Thông qua các chuyên đề Sinh học 12, học sinh THPT Bắc Kạn sẽ được trang bị nền tảng để trở thành những người kiến tạo tương lai, đóng góp vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế xanh và một xã hội có trách nhiệm với thiên nhiên.

01/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUÂN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu về tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học ở trung học phổ thông 1. Những nghiên cứu trên thế giới Dạy học tích hợp đã và đang được thực hiện ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển hàng đầu của thế giới; mức độ tích hợp khá đa dạng.

Số nước có môn Khoa học tự nhiên thay cho 3 môn học riêng rẽ là Vật lí, Hoá học và Sinh học ở cấp THCS chiếm tỉ lệ cao trong số các QG có nền GD phát triển như Anh, Australia, Hàn Quốc, Mỹ, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Thụy Sỹ,.[53] Các tư tưởng về tích hợp đầu tiên được thể hiện trên quan điểm gắn nhà trường với xã hội, kết nối giữa học với hành, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất. Trong cuốn “Nhà trường và xã hội” xuất bản năm 1899, Jonh Deway đã khởi xướng quan điểm nhà trường lao động, trong đó chỉ ra các nguyên tắc mới trong việc tổ chức giáo dục nhà trường là: Tổ hợp (đồng bộ), liên môn, tích hợp, tạo cơ sở cho việc định hướng nhân cách HS. Tư tưởng này là một bước tiến so với công trình nghiên cứu ở những năm 70 của thế kỷ XVIII do Pestalogi thực hiện về mối quan hệ giữa giáo dục và lao động. Sau này, Hội đồng nhà nước về khoa học Xô Viết mà đại diện là N.

Sau đó, tư tưởng phát triển liên môn trong nhà trường theo thực tiễn được nhiều nhà khoa học Xô Viết nghiên cứu và phát triển. Loskareva (1973) cho rằng: “Các mối quan hệ liên môn được thể hiện trong quá trình dạy học phải được hiểu như tính quy luật của hiện thực khách quan, là cơ sở triết lý và lí luận dạy học để xác định các nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học”. Trong tuyển tập khoa học “Các quá trình tích hợp trong khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục - dạy học chủ nghĩa cộng sản” xuất bản năm 1983, khái niệm tích hợp đã được đưa vào giáo dục học Xô Viết.Phormenko (1996), tích hợp là phương thức hình thành nhân cách và phát triển toàn diện con người Xô Viết. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, V.Phormenko và 10 download by : skknchat@gmail.com cộng sự đã tiến hành xác lập các phương thức xây dựng chương trình tích hợp trong giáo dục, đưa ra cách phân loại các phương thức đó, hình thành khái niệm về các sự kiện tích hợp và cần được tích hợp.

Như vậy, theo quan điểm của các nhà giáo dục Xô Viết, DHTH thực chất là giáo dục lao động mà thực chất là giáo dục kĩ thuật tổng hợp. [25] [39] Trong Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO tổ chức tại Paris năm 1972, UNESCO định nghĩa: DHTH các khoa học là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép sự diễn đạt thống nhất cơ bản của một tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lý chứ không phải là hợp nhất nội dung. Theo Hội nghị tại Maryland (tháng 4/1973), khái niệm DHTH các khoa học còn gắn với công nghệ học.

Nghĩa là phải chỉ ra các cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kỹ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. [39] Theo D’ Hainaut (1977), sự tích hợp môn học có những mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp nhưng tựu chung lại có bốn quan điểm sau: Tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn., (1999), có ba mô hình chương trình DHTH phổ biến nhất trên thế giới là: tích hợp đa môn, dựa trên chuỗi vấn đề, dựa trên các chủ đề. Theo Xavier Roegiers (1996), có bốn cách tích hợp môn học được thành hai nhóm lớn: Thứ nhất, đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học (thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học, hoặc ở những thời điểm đều đặn trong năm học). Thứ hai, phối hợp quá trình dạy học của nhiều môn học khác nhau (phối hợp bằng đề tài tích hợp hoặc tình huống tích hợp).

Theo Xavier Rogiers, nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho HS các khái niệm một cách riêng rẽ thì nguy cơ sẽ hình thành ở HS các suy luận khép kín, hình thành những con người “mù chức năng”, nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày. DHTH sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các năng lực và mục tiêu tích hợp. [47] Ở nhiều nước trên thế giới, tích hợp là một quan điểm cơ bản trong việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa từ Tiểu học đến Trung học cơ sở và THPT. Tùy 11 download by : skknchat@gmail.com theo cấp học, bậc học mà việc thực hiện quan điểm tích hợp có những nét đặc thù riêng đối với từng nước.

Ở Mỹ, Anh, Úc, Niu-di-lân, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… vận dụng quan điểm tích hợp ở mức cao, từ Tiểu học đến THPT. Mức độ tích hợp đa dạng, ở tất cả các môn học và đã đạt mức cao nhất: xuyên môn, đa môn, nội môn. Những nghiên cứu ở Việt Nam Những người biên soạn Chương trình GDPT mới của Việt Nam đã lựa chọn phương án tích hợp phù hợp với mỗi môn học để phát huy hiệu quả, đồng thời bảo đảm kiến thức cốt lõi của mỗi ngành khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế giáo dục của nước nhà. Trong chương trình môn Khoa học tự nhiên, bên cạnh việc thiết kế nội dung theo các chủ đề chung như Chất và sự biến đổi của chất, Vật sống, Năng lượng và sự biến đổi, Trái đất và Bầu trời, chương trình hướng dẫn HS tìm hiểu một số vấn đề đòi hỏi tính tích hợp cao như biến đổi khí hậu, giáo dục sức khoẻ, giáo dục STEM, bảo vệ môi trường.Phương thức và mức độ tích hợp như trên không vượt quá năng lực dạy học của giáo viên và khả năng tiếp nhận, vận dụng kiến thức của học sinh.

Đây là một phương thức tích hợp ở mức độ phù hợp. Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn thử nghiệm dạy học tích hợp ở Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy việc xây dựng chương trình môn học tích hợp giúp HS có cơ hội vận dụng kiến thức, kĩ năng của nhiều lĩnh vực chuyên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, giúp HS phát triển được những phẩm chất và năng lực mà Chương trình GDPT kì vọng. Ngoài ra, nó còn giúp tránh được sự trùng lặp kiến thức nếu dạy ở nhiều môn học, góp phần giảm tải so với chương trình hiện hành. Trong thực tiễn dạy học lâu nay, nhiều giáo viên đã vận dụng cách dạy học tích hợp.

Tuy nhiên, nếu quan điểm tích hợp được quán triệt ngay từ khâu thiết kế chương trình và biên soạn sách giáo khoa thì giáo viên sẽ vận dụng thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Theo GS Nguyễn Minh Thuyết - Tổng Chủ biên Chương trình GDPT mới - Chương trình GDPT mới thực hiện dạy học tích hợp theo ba định hướng sau: Thứ nhất: Tích hợp giữa các mảng kiến thức khác nhau, giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng trong cùng một môn học, tích hợp giữa. 12 download by : skknchat@gmail.com Thứ 2: Tích hợp kiến thức của các môn học, khoa học có liên quan với nhau; ở mức thấp là liên hệ kiến thức được dạy với những kiến thức có liên quan trong dạy học; ở mức cao là xây dựng các môn học tích hợp. Thứ 3: Tích hợp một số chủ đề quan trọng (ví dụ: các chủ đề về chủ quyền quốc gia, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, giáo dục tài chính,…) vào nội dung chương trình nhiều môn học.

Trong việc triển khai ba định hướng trên, điều được dư luận quan tâm nhiều là các môn học tích hợp (Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lí) ở cấp THCS. Quyết định 404 của Thủ tướng Chính phủ đã lưu ý: “Ở các lớp học, cấp học dưới, thực hiện lồng ghép, kết hợp những nội dung liên quan với nhau ở mức độ hợp lí để tạo thành các môn học tích hợp.” Chương trình môn Khoa học tự nhiên được thiết kế thành 4 mạch chủ đề chung: Chất và sự biến đổi của chất, Vật sống, Năng lượng và sự biến đổi, Trái đất và bầu trời. Mỗi chủ đề nói trên vận dụng kiến thức của một ngành khoa học, tạo điều kiện cho giáo viên vốn được đào tạo đơn môn ở trường sư phạm có thể thực hiện chương trình. Bên cạnh đó, chương trình còn có một số chủ đề đòi hỏi tính tích hợp cao như biến đổi khí hậu, giáo dục sức khoẻ, giáo dục STEM, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,.Phương thức và mức độ tích hợp như trên phù hợp với trình độ đào tạo, năng lực dạy học của giáo viên và khả năng tiếp nhận, vận dụng kiến thức của học sinh; đồng thời, cũng bảo đảm tính hệ thống của các kiến thức cốt lõi.

Tích hợp và dạy học tích hợp - Khái niệm tích hợp Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với nghĩa xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Trong tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp. Tích: (danh từ) là kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lượng đáng kể (Từ 13 download by : skknchat@gmail.com điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học; tr 981) Hợp:(danh từ): tập hợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung; (tính từ): không mâu thuẫn, đúng với đòi hỏi. Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ.

Như vậy, tích hợp có thể hiểu là sự kết hợp, sự hợp nhất, sự hòa nhập các bộ phận, các phần tử khác nhau thành một thể thống nhất. - Khái niệm dạy học tích hợp Trong quá trình nghiên cứu kinh nghiệm giáo dục trên thế giới, một số quan niệm về dạy học tích hợp đã được đưa ra ở việt nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ