CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUÂN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu về tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học ở trung học phổ thông 1. Những nghiên cứu trên thế giới Dạy học tích hợp đã và đang được thực hiện ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển hàng đầu của thế giới; mức độ tích hợp khá đa dạng.
Số nước có môn Khoa học tự nhiên thay cho 3 môn học riêng rẽ là Vật lí, Hoá học và Sinh học ở cấp THCS chiếm tỉ lệ cao trong số các QG có nền GD phát triển như Anh, Australia, Hàn Quốc, Mỹ, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Thụy Sỹ,.[53] Các tư tưởng về tích hợp đầu tiên được thể hiện trên quan điểm gắn nhà trường với xã hội, kết nối giữa học với hành, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất. Trong cuốn “Nhà trường và xã hội” xuất bản năm 1899, Jonh Deway đã khởi xướng quan điểm nhà trường lao động, trong đó chỉ ra các nguyên tắc mới trong việc tổ chức giáo dục nhà trường là: Tổ hợp (đồng bộ), liên môn, tích hợp, tạo cơ sở cho việc định hướng nhân cách HS. Tư tưởng này là một bước tiến so với công trình nghiên cứu ở những năm 70 của thế kỷ XVIII do Pestalogi thực hiện về mối quan hệ giữa giáo dục và lao động. Sau này, Hội đồng nhà nước về khoa học Xô Viết mà đại diện là N.
Sau đó, tư tưởng phát triển liên môn trong nhà trường theo thực tiễn được nhiều nhà khoa học Xô Viết nghiên cứu và phát triển. Loskareva (1973) cho rằng: “Các mối quan hệ liên môn được thể hiện trong quá trình dạy học phải được hiểu như tính quy luật của hiện thực khách quan, là cơ sở triết lý và lí luận dạy học để xác định các nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học”. Trong tuyển tập khoa học “Các quá trình tích hợp trong khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục - dạy học chủ nghĩa cộng sản” xuất bản năm 1983, khái niệm tích hợp đã được đưa vào giáo dục học Xô Viết.Phormenko (1996), tích hợp là phương thức hình thành nhân cách và phát triển toàn diện con người Xô Viết. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, V.Phormenko và 10 download by : skknchat@gmail.com cộng sự đã tiến hành xác lập các phương thức xây dựng chương trình tích hợp trong giáo dục, đưa ra cách phân loại các phương thức đó, hình thành khái niệm về các sự kiện tích hợp và cần được tích hợp.
Như vậy, theo quan điểm của các nhà giáo dục Xô Viết, DHTH thực chất là giáo dục lao động mà thực chất là giáo dục kĩ thuật tổng hợp. [25] [39] Trong Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO tổ chức tại Paris năm 1972, UNESCO định nghĩa: DHTH các khoa học là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép sự diễn đạt thống nhất cơ bản của một tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lý chứ không phải là hợp nhất nội dung. Theo Hội nghị tại Maryland (tháng 4/1973), khái niệm DHTH các khoa học còn gắn với công nghệ học.
Nghĩa là phải chỉ ra các cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kỹ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. [39] Theo D’ Hainaut (1977), sự tích hợp môn học có những mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp nhưng tựu chung lại có bốn quan điểm sau: Tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn., (1999), có ba mô hình chương trình DHTH phổ biến nhất trên thế giới là: tích hợp đa môn, dựa trên chuỗi vấn đề, dựa trên các chủ đề. Theo Xavier Roegiers (1996), có bốn cách tích hợp môn học được thành hai nhóm lớn: Thứ nhất, đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học (thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học, hoặc ở những thời điểm đều đặn trong năm học). Thứ hai, phối hợp quá trình dạy học của nhiều môn học khác nhau (phối hợp bằng đề tài tích hợp hoặc tình huống tích hợp).
Theo Xavier Rogiers, nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho HS các khái niệm một cách riêng rẽ thì nguy cơ sẽ hình thành ở HS các suy luận khép kín, hình thành những con người “mù chức năng”, nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày. DHTH sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các năng lực và mục tiêu tích hợp. [47] Ở nhiều nước trên thế giới, tích hợp là một quan điểm cơ bản trong việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa từ Tiểu học đến Trung học cơ sở và THPT. Tùy 11 download by : skknchat@gmail.com theo cấp học, bậc học mà việc thực hiện quan điểm tích hợp có những nét đặc thù riêng đối với từng nước.
Ở Mỹ, Anh, Úc, Niu-di-lân, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… vận dụng quan điểm tích hợp ở mức cao, từ Tiểu học đến THPT. Mức độ tích hợp đa dạng, ở tất cả các môn học và đã đạt mức cao nhất: xuyên môn, đa môn, nội môn. Những nghiên cứu ở Việt Nam Những người biên soạn Chương trình GDPT mới của Việt Nam đã lựa chọn phương án tích hợp phù hợp với mỗi môn học để phát huy hiệu quả, đồng thời bảo đảm kiến thức cốt lõi của mỗi ngành khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế giáo dục của nước nhà. Trong chương trình môn Khoa học tự nhiên, bên cạnh việc thiết kế nội dung theo các chủ đề chung như Chất và sự biến đổi của chất, Vật sống, Năng lượng và sự biến đổi, Trái đất và Bầu trời, chương trình hướng dẫn HS tìm hiểu một số vấn đề đòi hỏi tính tích hợp cao như biến đổi khí hậu, giáo dục sức khoẻ, giáo dục STEM, bảo vệ môi trường.Phương thức và mức độ tích hợp như trên không vượt quá năng lực dạy học của giáo viên và khả năng tiếp nhận, vận dụng kiến thức của học sinh.
Đây là một phương thức tích hợp ở mức độ phù hợp. Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn thử nghiệm dạy học tích hợp ở Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy việc xây dựng chương trình môn học tích hợp giúp HS có cơ hội vận dụng kiến thức, kĩ năng của nhiều lĩnh vực chuyên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, giúp HS phát triển được những phẩm chất và năng lực mà Chương trình GDPT kì vọng. Ngoài ra, nó còn giúp tránh được sự trùng lặp kiến thức nếu dạy ở nhiều môn học, góp phần giảm tải so với chương trình hiện hành. Trong thực tiễn dạy học lâu nay, nhiều giáo viên đã vận dụng cách dạy học tích hợp.
Tuy nhiên, nếu quan điểm tích hợp được quán triệt ngay từ khâu thiết kế chương trình và biên soạn sách giáo khoa thì giáo viên sẽ vận dụng thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Theo GS Nguyễn Minh Thuyết - Tổng Chủ biên Chương trình GDPT mới - Chương trình GDPT mới thực hiện dạy học tích hợp theo ba định hướng sau: Thứ nhất: Tích hợp giữa các mảng kiến thức khác nhau, giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng trong cùng một môn học, tích hợp giữa. 12 download by : skknchat@gmail.com Thứ 2: Tích hợp kiến thức của các môn học, khoa học có liên quan với nhau; ở mức thấp là liên hệ kiến thức được dạy với những kiến thức có liên quan trong dạy học; ở mức cao là xây dựng các môn học tích hợp. Thứ 3: Tích hợp một số chủ đề quan trọng (ví dụ: các chủ đề về chủ quyền quốc gia, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, giáo dục tài chính,…) vào nội dung chương trình nhiều môn học.
Trong việc triển khai ba định hướng trên, điều được dư luận quan tâm nhiều là các môn học tích hợp (Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lí) ở cấp THCS. Quyết định 404 của Thủ tướng Chính phủ đã lưu ý: “Ở các lớp học, cấp học dưới, thực hiện lồng ghép, kết hợp những nội dung liên quan với nhau ở mức độ hợp lí để tạo thành các môn học tích hợp.” Chương trình môn Khoa học tự nhiên được thiết kế thành 4 mạch chủ đề chung: Chất và sự biến đổi của chất, Vật sống, Năng lượng và sự biến đổi, Trái đất và bầu trời. Mỗi chủ đề nói trên vận dụng kiến thức của một ngành khoa học, tạo điều kiện cho giáo viên vốn được đào tạo đơn môn ở trường sư phạm có thể thực hiện chương trình. Bên cạnh đó, chương trình còn có một số chủ đề đòi hỏi tính tích hợp cao như biến đổi khí hậu, giáo dục sức khoẻ, giáo dục STEM, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,.Phương thức và mức độ tích hợp như trên phù hợp với trình độ đào tạo, năng lực dạy học của giáo viên và khả năng tiếp nhận, vận dụng kiến thức của học sinh; đồng thời, cũng bảo đảm tính hệ thống của các kiến thức cốt lõi.
Tích hợp và dạy học tích hợp - Khái niệm tích hợp Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với nghĩa xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Trong tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp. Tích: (danh từ) là kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lượng đáng kể (Từ 13 download by : skknchat@gmail.com điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học; tr 981) Hợp:(danh từ): tập hợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung; (tính từ): không mâu thuẫn, đúng với đòi hỏi. Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ.
Như vậy, tích hợp có thể hiểu là sự kết hợp, sự hợp nhất, sự hòa nhập các bộ phận, các phần tử khác nhau thành một thể thống nhất. - Khái niệm dạy học tích hợp Trong quá trình nghiên cứu kinh nghiệm giáo dục trên thế giới, một số quan niệm về dạy học tích hợp đã được đưa ra ở việt nam.