CHƯƠNG 1 CHUYỂN BIẾN CỦA THƯƠNG MẠI ĐÔNG Á VÀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU TƠ LỤA, GỐM SỨ ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII 1. Chuyển biến của thương mại khu vực Đông Á thế kỷ XVII Đến thế kỷ XVII, trong bối cảnh của kỷ nguyên thương mại, 1 ở khu vực Đông Á hình thành một mạng lưới thương mại quy mô và liên hoàn. Từ những thế kỷ trước, giữa các nước trong khu vực đã hình thành quan hệ buôn bán, thông thương khá rõ nét [81]. Có một thực tế là, không phải tới thế kỷ XV, sau các đại phát kiến địa lý thì những mối liên hệ giữa phương Đông và phương Tây mới được thiết lập.
Năm 618, nhà Đường (618-907) đã đẩy mạnh các con đường tơ lụa trên bộ và trên biển, thiết lập nên những mối giao thương Đông–Tây. Dưới thời Đường và các triều đại sau đó, dòng chảy của con đường tơ lụa là mạch nguồn truyền tải hàng hóa, văn hóa của phương Đông sang phương Tây. Mặc dù vậy, chỉ tới thế kỷ XV, sau các cuộc phát kiến địa lý thì những mối liên hệ từ chiều sâu lịch sử ấy mới diễn ra một cách sôi động và có sự thay đổi rất lớn về quy mô và mức độ. Nếu như trước đây, dòng chảy thương mại chủ yếu là từ phương Đông sang phương Tây thì sau thế kỷ XV, còn có tuyến buôn bán từ phương Tây sang phương Đông.
Khác với giai đoạn trước, những mối liên hệ buôn bán thường diễn ra một cách độc lập, nhỏ lẻ thì sau thế kỷ XV nhiều quốc gia phương Tây xây dựng hệ thống thương mại thông qua các công ty Đông Ấn, khiến hoạt động buôn bán diễn ra một cách quy mô và chặt chẽ. Thế kỷ XVI, XVII tình hình mậu dịch thế giới có những sự thay đổi lớn, các nước châu Âu đến phương Đông để thu mua và vận chuyển hàng hóa, các thương phẩm địa phương như tơ lụa, gốm sứ… để tiến hành trao đổi, buôn bán. Những hiểu biết về một phương Đông giàu có, xứ sở của hương liệu, của vàng đã thúc đẩy người Châu Âu tiến hành những cuộc phát kiến địa lý. Những cố gắng ấy của người 1 Về thời kỳ phát triển thịnh đạt của mạng lưới thương mại tại Châu Á, dù còn nhiều ý kiến tranh luận, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều lấy niên đại từ 1450 -1680.
Niên đại này được đưa ra bởi nhà nghiên cứu Anthony Reid để chỉ giai đoạn hoàng kim của hoạt động thương mại Đông Nam Á. Xin xem Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce (Volume 2: Expansion and Crisis), Yale University Press, 1993. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở Đông Nam Á còn tồn tại một kỷ nguyên thương mại sớm, kéo dài từ 900 -1300. “Một trong những nhân tố tác động rất lớn và gần như xuyên suốt “kỉ nguyên sớm của thương mại Đông Nam Á (900 -1300)”, như Geoff Wade từng đề xuất, là những chính sách về thương mại và kinh tế hết sức tích cực và chủ động của các vương triều Tống và Nguyên ở Trung Quốc.
Nối tiếp chủ trương coi trọng tiền tệ để phát triển thương mại của các chư hầu thời kì Ngũ Đại, dưới thời Tống, những chính sách cụ thể về tiền tệ, trao đổi, thuế khoá…trong giao dịch với người nước ngoài đã được thực thi nhằm kích thích sự mở rộng của ngoại thương [106; tr.7] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Châu Âu đã được đền đáp một cách xứng đáng. Năm 1511, thuyền buôn người Bồ Đào Nha đã chiếm được eo Malacca, một thương cảng quan trọng trong mạng lưới thương mại Đông Nam Á. Có thể thấy sự xuất hiện của những thương nhân Châu Âu đã phá vỡ cấu trúc thương mại truyền thống tại Đông Nam Á với vai trò điều phối chủ yếu của thương nhân Trung Quốc và thương nhân Nhật Bản. Nhiều cảng thị thực tế chỉ là các trung tâm buôn bán địa phương, nơi lưu trú, thu gom, cung cấp hàng hóa cho các thuyền buôn ngoại quốc do thương nhân Hoa kiều chi phối [47, tr.
Sự xuất hiện của người phương Tây tại các cảng thị Đông Nam Á đã từng bước phá vỡ mạng lưới thương mại độc quyền của người Hoa tại đây, bởi lẽ “do có tàu đi biển có trọng tải lớn, tốc độ nhanh và những thủ đoạn buôn bán tinh vi mà những thương nhân phương Tây đã phá vỡ được vai trò đọc quyền của người Hoa trong hệ thống buôn bán ở biển Đông… những chuyến tàu buôn phương Tây đã nối liền thị trường Đông Nam Á với mạng lưới thương mại thế giới [47, tr. 49] Với những thành tựu trong các cuộc phát kiến địa lý và sức mạnh hàng hải, người Bồ Đào Nha trở thành thế lực tiên phong trong việc tiến hành thiết lập mạng lưới thương mại và buôn bán ở phương Đông. Sau khi thiết lập được vị thế của mình ở Macao, Estado da India (công ty Đông Ấn Bồ Đào Nha) đã tiến hành kinh doanh trong tam giác mậu dịch từ Ấn Độ qua Macao đến Nhật Bản. Thương nhân Bồ Đào Nha trở thành những người điều phối và nắm giữ những hoạt động thương nghiệp sôi động nhất ở Đông Á những năm đầu thế kỷ XVII.
Họ đã thiết lập được mạng lưới buôn bán mang tính liên hoàn, kết nối những điểm trung chuyển quan trọng bậc nhất ở Đông Á, cụ thể là mạng lưới từ Goa sang Malacca nằm ở trung tâm của Ấn Độ và Trung Quốc, một cảng trung chuyển quan trọng bậc nhất của tuyến buôn bán Đông – Tây. Từ Malacca, người Bồ Đào Nha tiến về phía Trung Quốc với mục đích thiết lập quan hệ thương mại với thị trường giàu tiềm năng bậc nhất châu Á đồng thời thu được nhiều nguồn lợi lớn. Tại Trung Quốc, người Bồ đã thiết lập được vị thế của mình bằng việc buôn bán ở Macao; thuyền buôn Bồ Đào Nha tiến xuống Nhật Bản, thiết lập quan hệ buôn bán với quốc gia này ở thương cảng Nagasaki. Việc thiết lập được quan hệ buôn bán của Bồ Đào Nha ở Trung Quốc và Nhật Bản, đặc biệt là sự thiết lập tuyến thương mại hai chiều Macao - Nagasaki đã khiến hai thương cảng này có vị thế quan trọng bậc nhất trong hệ thống thương mại 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Công ty Đông Ấn Bồ Đào Nha trong suốt những năm tháng buôn bán ở phương Đông.
Từ Trung Quốc, những thương phẩm người Bồ thu mua được như tơ sống, lụa được vận chuyển đến Nhật Bản để đổi lấy bạc Nhật. “Hương liệu của Đông Nam Á, sản phẩm dệt của Ấn Độ cùng với hàng hóa của châu Âu được vận chuyển đến Quảng Châu, tơ sống và lụa tấm của Trung Quốc được vận chuyển đến Manila, sau đó từ đây được chuyển đi các thị trường ở Mỹ - Latinh và châu Âu. Ngược lại, tơ lụa và gốm sứ Trung Quốc lại được xuất khẩu đi Goa, từ đó lại được phân phối đi các nơi của Ấn Độ, châu Phi và châu Âu” [97, tr. Tuy nhiên, sau đó người Bồ Đào Nha đã để mất vị thế trong hệ thống thương mại châu Á vào tay người Hà Lan, những người đã cùng với người Anh xâm nhập vào thị trường phương Đông từ đầu thế kỷ XVII.
Người Anh thành lập công ty Đông Ấn Anh (EIC) vào năm 1600 và người Hà Lan thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) vào năm 1602. Cả hai thế lực mới này đều tìm cách tham gia hoạt động thương mại tại cầu thương mại Macao – Nagasaki và tích cực tham gia vào hoạt động thương mại tại thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên chỉ có VOC được phép buôn bán tại Nhật, người Bồ Đào Nha bị trục xuất khỏi Nhật Bản từ năm 1641 do Mạc Phủ e ngại thế lực Thiên Chúa giáo. Từ đây về sau, VOC thay chân người Bồ Đào Nha và người Nhật trong buôn bán bạc.
Có thể thấy rằng, trong một chừng mực nào đó người Hà Lan đã may mắn khi được thừa hưởng một mạng lưới thương mại được thiết lập bởi người Bồ Đào Nha cùng các thương nhân châu Á đã tiến hành buôn bán từ trước đó. Feldbaek, đến năm 1500, ở châu Á đã thực sự tồn tại các tuyến hàng hải thương mại như tuyến đường giữa các cảng thị phía Đông và Đông Nam Á, con đường giữa Malacca và các cảng thị trên vùng biển Ấn Độ và con đường giữa Ấn Độ và các các cảng thị trên Biển Đỏ và vịnh Ba Tư… Cụ thể ở khu vực “Đông Nam Á đã hình thành hai tuyến giao thương chính gồm “tuyến phía Đông dọc theo các quốc gia hải đảo và tuyến phía Tây ven theo vùng biển của các quốc gia Đông Nam Á lục địa. Tuyến thứ nhất có 46 nhánh còn tuyến thứ hai có tất cả 125 điểm đỗ là các cảng hay cảng thị” [124, tr. Vì vậy, Đông Nam Á trở thành cửa ngõ, điểm trung chuyển của các tuyến giao thương trong mạng lưới thương mại Nội Á.
Khi các thương nhân châu Âu đến châu Á, họ đã gặp phải rất nhiều khó khăn để có thể thâm nhập và dần dần trở thành chủ nhân thực sự dẫn dắt 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con đường đó. Bước vào “kỷ nguyên thương mại” với thế mạnh của “người đánh xe ngựa trên biển”, VOC đã nhanh chóng vươn lên chiếm giữ vai trò chủ đạo, khẳng định ưu thế độc quyền của mình trong mạng lưới thương mại Nội Á. Theo Sakurai Yumio “Công ty Đông Ấn Hà Lan là sự nối dài đầu tiên của hệ thống thương mại châu Âu tại Đông Nam Á và có tầm ảnh hưởng rất nhiều đến lịch sử cận đại Đông Nam Á” [122, tr. 52] Song song với hoạt động thương mại của các Công ty Đông Ấn châu Âu là hoạt động truyền thống của các thương nhân châu Á: Hoa thương, Nhật thương… Riêng với Trung Quốc, đến cuối thế kỷ XVII khi thị trường châu Âu có chiều hướng sa sút và suy giảm lợi nhuận, kinh tế Trung Quốc lại phát triển khá nhanh bởi sự ổn định về tình hình chính trị trong nước.
Tuy nhiên, bài học Trịnh Thành Công đã khiến cho triều đình Mãn Thanh tiến hành kiểm soát các hoạt động thương mại biển bằng một hệ thống khá chặt chẽ là thương mại triều cống với các nước phía Nam. Hệ thống thương mại triều cống này “thực chất là một hệ thống mang tính chất chính trị được xây dựng trên nền tảng những giá trị văn hóa của Trung Quốc theo quan niệm Hoa – Di” [122, 53]. Nhờ có hệ thống thương mại này, thương nhân Trung Hoa trở thành trung gian giữa triều đình và các thương nhân khu vực và dần dần chiếm lĩnh toàn bộ các mạng lưới buôn bán ở vùng biển phía Nam Trung Hoa.