CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ XUYÊN BIÊN GIỚI 1. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm thương mại điện tử Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công”.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet". Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet." Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ thương mại điện tử. Tại Việt Nam, theo nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT thì “Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Như vậy, qua các khái niệm trên, ta có thể kết luận TMĐT về cơ bản được hiểu là hình thức thực hiện, quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh thương mại của các thành viên thị trường với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử và mạng viễn thông.
Đặc điểm của thương mại điện tử Thương mại điện tử hiện nay được cụ thể hóa là các sàn giao dịch thương mại điện tử vì thế nó có những đặc điểm sau: 6 Thứ nhất, TMĐT cho phép chúng ta có sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm, thông tin và tiền tệ thông qua mạng internet hoặc các phương tiện điện tử khác có kết nối mạng. Trong hoạt động thương mại truyền thống, các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến ký kết hợp đồng, còn trong hoạt động thương mại điện tử, nhờ việc sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng toàn cầu, chủ yếu là sử dụng mạng internet mà giờ đây các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dịch được với nhau. Do đó, TMĐT giúp cho chúng ta có thể tối ưu hóa thời gian, cắt giảm được chi phí đi lại quy trình thương lượng và các giao dịch được tăng tốc, nâng cao quá trình sản xuất. Thứ hai, so với giao dịch truyền thống, trong TMĐT không tồn tại khái niệm "ranh giới địa lý".
TMĐT hoạt động trên khắp toàn cầu hay thị trường trong thương mại điện tử là thị trường phi biên giới. Điều này thể hiện ở chỗ mọi người ở tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia vào cùng một giao dịch bằng cách truy cập vào các website thương mại hoặc vào các trang mạng xã hội. Chính vì vậy mà người mua có thể mua hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của mình một cách dễ dàng, tiện lợi hơn với mức giá tốt, các doanh nghiệp có thể dễ dàng tìm được và lựa chọn được đối tác của mình một cách nhanh chóng với giá cả cạnh tranh. Thứ ba, trong hoạt động thương mại điện tử phải có tối thiểu ba chủ thể tham gia.
Đó là các bên tham gia giao dịch và không thể thiếu được sự tham gia của bên thứ ba, là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử. Họ là các cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực, có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử. Thứ tư, TMĐT có tốc độ xử lý nhanh và thời gian hoạt động không giới hạn. Các giao dịch của thương mại điện tử được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử và mạng máy tính.
Các bên tham gia vào hoạt động thương mại điện tử đều có thể tiến hành các giao dịch suốt 24 giờ/7 ngày trong vòng 365 ngày liên tục ở bất cứ nơi nào có mạng viễn thông và có các phương tiện điện tử kết nối với các mạng này, đây là các phương tiện có khả năng tự động hóa cao giúp đẩy nhanh quá trình giao dịch. Thứ năm, trong TMĐT hệ thống thông tin chính là thị trường – nơi có thể tìm được các đối tác, thực hiện trao đổi thông tin, hàng hoá, dịch vụ và thanh toán. Các 7 bên không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng. Để làm được điều này các bên phải truy cập vào hệ thống thông tin của nhau hay hệ thống thông tin của các giải pháp tìm kiếm thông qua mạng internet…để tìm hiểu thông tin về nhau từ đó tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng.
Thứ sáu, sự phát triển của thương mại điện tử gắn liền và có sự tác động qua lại với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông. Cũng nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà thương mại điện tử có cơ hội ra đời và phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển của thương mại điện tử cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của công nghệ thông tin như phần cứng và phần mềm chuyên dùng cho các ứng dụng thương mại điện tử, thanh toán điện tử. Thứ bảy, phương thức thanh toán trong thương mại điện tử được đa dạng hóa rất nhiều.
Các phương thức thanh toán phổ biến hiện nay được sử dụng bao gồm: thẻ thanh toán, thẻ thông minh, ví điện tử, tiền điện tử, thanh toán qua điện thoại di động, séc điện tử, thẻ mua hàng, thư tín dụng điện tử, chuyển tiền điện tử. Trong số các phương tiện thanh toán điện tử trên, hiện nay, trên thế giới và Việt Nam, thẻ thanh toán vẫn được coi là phương tiện phổ biến nhất, đặc biệt là thẻ tín dụng do tính tiện lợi và phổ biến. Phân loại thương mại điện tử Các hình thức thương mại điện tử được phân loại tương ứng với các mô hình kinh doanh thương mại ở Việt Nam. Dựa theo đối tượng tham gia, TMĐT bao gồm 5 hình thức.
Trong đó, các đối tượng tham gia chính của thương mại điện tử là: Chính phủ (G), Doanh nghiệp (B), Khách hàng cá nhân (C). Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B: Là mô hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ tiến hành trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thông tin với nhau thông qua fax và mạng internet. Hình thức chủ yếu của mô hình thương mại điện tử B2B đó là bán hàng và hỗ trợ kinh doanh cho các doanh nghiệp trực tiếp qua mạng; mua sắm nguyên phụ liệu cho quá trình sản xuất từ các nhà cung cấp hay qua hình thức đấu giá; hay là trang tin cung cấp thông tin về một mặt hàng của doanh nghiệp.com là những công ty tiên phong và thành công với mô hình kinh doanh B2B.
Mô hình thương mại điện tử B2B xuất hiện từ rất sớm nhưng chỉ thực sự khởi sắc vào đầu 8 những năm 2000. Người ta dự đoán rằng mô hình thương mại điện tử B2B sẽ còn phát triển hơn nữa trong tương lai. Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và khách hàng – B2C: Là mô hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng, còn được gọi bằng cái tên khác là mô hình bán hàng trực tuyến (e-tailing). Đây là mô hình thương mại điện tử xuất hiện sớm nhất.
Trong mô hình này các doanh nghiệp sẽ cung ứng trực tiếp sản phẩm đến người tiêu dùng. Nhờ đó mà người tiêu dùng có thể tiếp cận và mua những sản phẩm chính hãng, giá cả thấp hơn, giảm rủi ro trong việc mua hàng. Thương mại điện tử giữa khách hàng với khách hàng - C2C: Là mô hình thương mại điện tử giữa những người tiêu dùng. Mô hình này cho phép người tiêu dùng có thể trao đổi mua bán trực tiếp với nhau.
Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với chính phủ - B2G: Là mô hình thương mại điện tử giữa chính phủ và doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong mô hình này có thể đăng ký kinh doanh, đóng thuế, khai báo hải quan và xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ thông qua các dịch vụ công trực tuyến của chính phủ. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho chính phủ thông qua các cuộc đấu thầu trực tuyến. Ví dụ: Ngoài lĩnh vực khai hải quan điện tử Việt Nam đang triển khai hệ thống Ecus, nước ta còn đang triển khai hệ thống Ecosys cho việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ.
Thương mại điện tử giữa người tiêu dùng và chính phủ - C2G: Là mô hình thương mại điện tử giữa chính phủ với người dân. Mô hình TMĐT này cho phép người dân kê khai và đóng thuế thu nhập cá nhân, trả phí trước bạ hay bầu cử trực tuyến; còn chính phủ thì có thể thông qua các phương tiện điện tử có thể ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp quy mới hay cung cấp các phúc lợi xã hội cho người dân. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ XUYÊN BIÊN GIỚI 1. Khái niệm thương mại điện tử xuyên biên giới Thương mại điện tử, cũng giống như Internet, có đặc điểm là không biên giới, nhờ đó khách hàng có thể mua sắm qua Internet từ khắp nơi trên thế giới.
Mặc dù hầu hết khách hàng mua sắm trực tuyến vẫn chọn các cửa hàng Internet trong nước, nhưng việc mua hàng từ các cửa hàng bởi các quốc gia khác nhau trên thế giới ngày càng 9 được ưa chuộng hơn. Đây được gọi là thương mại điện tử xuyên biên giới (Arkadiusz K. Về lý luận, TMĐTXBG là việc kết hợp giữa TMĐT và thương mại quốc tế giữa các quốc gia.