CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ 1. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm Thương mại điện tử Thương mại điện tử (TMĐT) trên Thế giới được biết đến với nhiều tên gọi và được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau như " Thương mại điện tử " (Electronic commerce), "thương mại trực tuyến" (online trade), "thương mại không giấy tờ" (paperless commerce) hoặc "kinh doanh điện tử" (e-business). Tuy nhiên " Thương mại điện tử " vẫn là tên gọi phổ biến và được dùng thống nhất trong các công trình nghiên cứu hay các văn bản của các cá nhân hay tổ chức trên thế giới.
TMĐT được bắt đầu từ việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ sản xuất, bán hàng, maketing, thanh toán đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, liên kết, phối hợp hoạt động với các nhà cung ứng, đối tác, khách hàng… Ngày nay trên Thế giới, có nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT từ các tổ chức trên Thế giới: UNCITRAL: Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce, 1996) định nghĩa: “Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch”. “Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bảng tính, các bảng thiết kế, hình đồ họa, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh… ‘Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn hàng hóa hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp 6 hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay khách hàng bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ. ● WTO: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng việc giao nhận có thể như truyền thống hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hoá”.
● Tại Việt Nam ngày 16/5/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ- CP về TMĐT, trong đó, khái niệm TMĐT được định nghĩa như sau “Hoạt động Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Như vậy, qua các khái niêm trên ta có thể rút ra, TMĐT được hiểu cơ bản là hình thức thực hiện, quản lý và điều hành kinh doanh thương mại của các thành viên trên thị trường với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu TMĐT trong các hoạt động bán lẻ. Các đặc trưng của Thương mại điện tử Từ cách hiểu TMĐT bao gồm việc quảng cáo, bán hàng, phân phối sản phẩm được mua bán với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử và thanh toán trên mạng Internet, có thể thấy được những đặc trưng cơ bản của loại hình thương mại mới này: Thứ nhất, sự phát triển của TMĐT gắn liền với sự phát triển của ICT (Infornation Commercial Technology).
ICT: là thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông (đường dây điện thoại và tín hiệu không dây. TMĐT là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thương mại, chính vì lẽ đó mà ICT được xem như là nền móng cho sự phát triển của TMĐT. ICT phát triển là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển của TMĐT. Bên cạnh đó, sự phát triển của TMĐT cũng tác động ngược trở lại và gợi mở nhiều lĩnh vực của ICT như phần cứng và phần mềm chuyên dụng cho các ứng dụng TMĐT, dịch vụ thanh toán cho TMĐT, cũng như đẩy mạnh sản xuất trong lĩnh vực ICT như máy tính, thiết bị điện tử, thiết bị viễn thông, thiết bị mạng… Thứ hai, về hình thức: Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau.
Theo định nghĩa, chủ thể tham gia TMĐT không hoặc không thể trực 7 tiếp gặp gỡ, giao dịch với nhau mà đòi hỏi có sự tham gia của các phương tiện điện tử có kết nối mạng viễn thông. Qua đó giúp các bên tối ưu hóa về thời gian, các chi phí đi lại, đàm phán và đẩy nhanh tiến độ giao dịch. Ví dụ như ngày nay, bạn có thể mua bất kỳ một cuốn sách ở nửa bên kia bán cầu trong thời gian không tưởng và với mức giá bằng giá cuốn sách mua ở hiệu sách - điều mà trước đây Thương mại thông thường không thể làm được. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng là một hạn chế của TMĐT, với việc không thể giao dịch trực tiếp khiến cho “lòng tin” giữa người mua và người bán không cao vì vậy đôi khi làm cản trở tới quá trình thực hiện giao dịch.
Thứ ba, về phạm vi hoạt động: so với thương mại truyền thống, hoạt động TMĐT không tồn tại khái niệm “biên giới địa lý” mà thị trường của TMĐT hướng tới là toàn cầu. Trong đó nơi mọi người ở bất cứ đâu cũng có thể tham gia và tiến hành các hoạt động thương mại với mức chi phí giao dịch được giảm tối đa do giảm thiểu được các bên trung gian cũng như TMĐT có mức độ bao phủ rộng lớn. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhỏ, TMĐT chính là công cụ hữu hiệu giúp cho họ mở rộng thị trường kể cả trong nước và quốc tế. Trong khi đó, đối với các hoạt động thương mại truyền thống thì điều này gặp rất nhiều khó khăn, vì để thực hiện các giao dịch diễn ra trong phạm vi một khu vực, một quốc gia hay giữa nhiều chủ thể từ nhiều quốc gia khác nhau, các bên tham gia phải gặp gỡ nhau trực tiếp để đàm phán, trao đổi, kí kết, mua bán hàng hóa.
Mặt khác, việc mở rộng thị trường còn cần phải tốn các chi phí như thuê mặt bằng, showroom trưng bày sản phẩm, xây dựng chiến lược marketing, quảng bá hình ảnh toàn diện. Thứ tư, về chủ thể tham gia: nếu như trong thương mại truyền thống, một giao dịch chỉ cần có hai chủ thể tham gia bao gồm người mua - người bán, thì giao dịch trong TMĐT phải có ít nhất ba chủ thể tham gia vào giao dịch. Đó là các bên tham gia giao dịch và phải có thêm một chủ thể thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực. Trong đó vai trò của cơ quan chứng thực là xác nhận độ tin cậy của các thông tin giao dịch trên trong TMĐT qua đó khắc phục vấn đề “ lòng tin” trong TMĐT cũng như giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia.
Thứ năm, thời gian thực hiện giao dịch: Sử dụng TMĐT không bị ràng buộc về thời gian. Do vậy các bên các bên có thể tiến hành giao dịch bất cứ khi nào, ở bất cứ đâu 8 miễn đáp ứng đủ điều kiện tiên quyết mạng viễn thông và các phương tiện điện tử kết có nối mạng. Mọi rào cản về mặt múi giờ được gỡ bỏ. Mặt khác, TMĐT được số hóa để tối ưu và giảm thiểu quy trình bán hàng.
Đó không chỉ ở trong nội bộ của một doanh nghiệp mà đó có thể kết nối giữa các doanh nghiệp với nhau. Khi truy cập vào hệ thống TMĐT, các phòng ban đều nắm được các tiến trình, tình trạng thực hiện đơn hàng mà không phải gửi mail, gọi điện, fax,… Như vậy, so với giao dịch truyền thống đi lại để đàm phán, ký hợp đồng hay ra ngân hàng để chuyển khoản,… thì việc sử dụng TMĐT tối giản hóa thủ tục và thời gian giữa các bên. Thứ sáu, phương thức thanh toán trong TMĐT rất đa dạng và phong phú. Các phương thức thanh toán trực tuyến phổ biến hiện nay trên thế giới bao gồm: Thẻ thanh toán; Thẻ thông minh; Ví điện tử; Tiền điện tử; Thanh toán qua điện thoại di động; Séc điện tử; Thẻ mua hàng; Thư tín dụng điện tử; Chuyển tiền điện tử (EFT - Electronic Fund Transfering).
Trong các phương tiện thanh toán điện tử trên, thì hiện nay trên Thế giới và Việt Nam thẻ thanh toán vẫn được coi là phương tiện phổ biến nhất, đặc biệt là thẻ tín dụng do tính tiện lợi và phổ biến của nó (nhất là tại Mỹ và các nước phát triển). Ba loại thẻ thanh toán phổ biến gồm: thẻ tín dụng (credit card, là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu tới một hạn mức tín dụng nhất định), thẻ ghi nợ (debit card, là thẻ chi tiêu dựa trên số dư tài khoản thẻ hay tài khoản tiền gửi) và thẻ mua hàng (charge card, là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu và tiến hành thanh toán các khoản chi tiêu ở các quầy hàng, hay thực hiện các dịch vụ công cộng mà không cần có mặt của nhân viên). Các hình thức Thương mại điện tử Có rất nhiều tiêu chí để phân loại TMĐT như phân loại theo công nghệ kết nối mạng, phân loại theo hình thức dịch vụ, phân loại theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng, nhưng cách phân loại tổng quát nhất và phổ biến nhất của TMĐT là theo mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia. Có ba chủ thể chính tham gia chủ yếu vào các giao dịch TMĐT đó là: Chính phủ (G), doanh nghiệp (B), khách hàng cá nhân (C).
Với sự kết hợp của từng đối tượng này sẽ đưa ra những mô hình thương mại khác nhau: 9 Chính phủ Doanh nghiệp Người tiêu dùng (G) (B) (C) Chính phủ (G) G2G G2B G2C Doanh nghiệp (B) B2G B2B B2C Người tiêu dùng (C) C2G C2B C2C Ngoài ra phụ thuộc vào mức độ số hóa của 3 yếu tố: sản phẩm, các quá trình và các tác nhân phân phối, TMĐT còn được chia thành TMĐT thuần thúy và TMĐT từng phần. Một sản phẩm có thể là hữu hình hoặc số hóa, một quá trình có thể là hữu hình hoặc số hóa, một tác nhân phân phối cũng có thể là hữu hình hoặc số hóa.