Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tăng cường quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thanh Tâm (Lớp K21TCA, Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đào Thị Hồ Hương, hoàn thành vào tháng 5 năm 2022.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng sự bùng nổ của mạng Internet và công nghệ thông tin đã thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Datareportal được tác giả trích dẫn, tính đến tháng 1 năm 2022, Việt Nam ghi nhận 72,10 triệu người dùng Internet, chiếm 73,2% tổng dân số (98,56 triệu người); phân tích của Kepios cho thấy số lượng người dùng Internet tăng 3,4 triệu người (tăng 4,9%) trong giai đoạn 2021–2022. Đặc biệt, các đợt bùng phát của đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi hành vi tiêu dùng, biến mua sắm trực tuyến trở thành thói quen phổ biến. Tuy nhiên, tính chất phi biên giới, hoạt động trên môi trường mạng và các phương thức thanh toán phức tạp của TMĐT đang đặt ra nhiều thách thức lớn đối với công tác quản lý nhà nước. Hệ thống pháp luật thuế đang trong quá trình hoàn thiện nhưng vẫn bộc lộ nhiều điểm chưa tương thích, dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách nhà nước (NSNN) và tạo ra sự bất bình đẳng giữa kinh doanh trực tuyến với thương mại truyền thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại điện tử và công tác quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, đồng thời tổng hợp kinh nghiệm quản lý thuế quốc tế để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng phát triển thương mại điện tử và thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động này tại Việt Nam giai đoạn 2018–2022, chỉ rõ những kết quả đạt được cùng các khó khăn, vướng mắc trong quản lý thông tin và căn cứ tính thuế.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT và công tác quản lý thuế của ngành thuế đối với hoạt động TMĐT tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu cách thức thực thi chính sách, thủ tục quản lý của cơ quan thuế đối với hoạt động TMĐT, thực trạng quản lý thuế tại Việt Nam và các định hướng quản lý trong tương lai.
- Phạm vi thời gian: Các dữ liệu và số liệu thực tiễn được thu thập, phân tích chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2018 đến đầu năm 2022 (kèm các chuỗi dữ liệu thống kê thứ cấp giai đoạn 2012–2021).
- Phạm vi không gian: Không gian quản lý thuế trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó tập trung khai thác số liệu thực tế tại hai địa bàn trọng điểm là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn tắc và các quy định pháp luật hiện hành:
- Về thương mại điện tử: Tác giả viện dẫn các định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD - theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp), Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD), và quy định tại Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/05/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử.
- Về quản lý thuế: Khóa luận tiếp cận khái niệm quản lý thuế theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp và theo quy định tại Điều 3 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Khung lý thuyết xác định 4 nguyên tắc quản lý thuế nền tảng (tuân thủ pháp luật, đảm bảo tính hiệu quả, thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế, công khai minh bạch) cùng 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý thuế TMĐT (chính sách thuế, tổ chức bộ máy quản lý, ý thức của người nộp thuế, các yếu tố khách quan khác).
- Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh: Các sắc thuế áp dụng đối với TMĐT được tổng hợp bao gồm Luật Thuế Giá trị gia tăng năm 2008, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012 và 2014); Thông tư số 95/2016/TT-BTC về đăng ký thuế; Thông tư số 103/2014/TT-BTC về nghĩa vụ thuế của nhà thầu nước ngoài; Thông tư số 92/2015/TT-BTC; Quyết định số 404/QĐ-TCT ngày 03/04/2017 của Tổng cục Thuế; Nghị định số 85/2021/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 52/2013/NĐ-CP; và Thông tư số 80/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật Quản lý thuế.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:
- Phương pháp thống kê và so sánh: Sử dụng để lượng hóa quy mô, tốc độ tăng trưởng của thị trường Internet, doanh thu TMĐT, lượt truy cập các sàn giao dịch và kết quả thu nộp thuế qua các giai đoạn.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Khái quát hóa các mô hình TMĐT, đánh giá cơ chế quản lý hành thu và phân tích các số liệu thực tế tại các địa phương.
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tiếp cận dữ liệu báo cáo từ các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức nghiên cứu thị trường độc lập.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các ấn phẩm khoa học, tài liệu của OECD, sách giáo trình chuyên ngành và các bài báo khoa học trong nước.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm:
- Báo cáo số liệu chuyên ngành của Cục Thuế TP. Hà Nội, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh, Chi cục Thuế quận Hoàng Mai và các quyết định của Tổng cục Thuế.
- Báo cáo Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam các năm của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), báo cáo của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM).
- Báo cáo nghiên cứu thị trường từ Datareportal (Digital Vietnam 2022), Kepios, Google, Bain & Company, Temasek và Iprice.vn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử
Trong chương này, tác giả hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu trước đó:
- Tổng quan nghiên cứu: Điểm lại các công trình quốc tế tiêu biểu như nghiên cứu của OECD (2001) về khuôn khổ thuế Ottawa và các khía cạnh quản trị thuế đối với TMĐT; nghiên cứu của Niall Campbell (2014) về ứng dụng phân tích dữ liệu lớn (Big Data) trong quản lý thuế; ấn phẩm của Subhajit Basu (2007) về pháp luật thuế TMĐT toàn cầu; nghiên cứu của Wawan Juswanto và Rebecca Simms (2017) về thuế công bằng trong kinh tế số; và bài viết của Chris Sanger, Rob Thomas (2018) về chính sách thuế kỹ thuật số mới. Đồng thời, tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong nước của ThS. Lê Hồng Hải (2008), PGS.TS. Nguyễn Văn Minh (2012), ThS. Nguyễn Quang Tiến (2015, 2016), TS. Nguyễn Thanh Trang (2018), và nhóm nghiên cứu Học viện Ngân hàng (2020). Tác giả chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết thấu đáo: quản lý thuế TMĐT trong bối cảnh bùng nổ kinh tế số; tác động đặc thù của đại dịch Covid-19; và những bất cập nảy sinh từ các quy định mới đối với cơ quan thuế cùng các chủ thể liên quan (sàn giao dịch, người bán hàng).
- Lý luận về thương mại điện tử: Trình bày lịch sử phát triển từ các mốc EDI, EFT thập niên 1970 đến sự xuất hiện của Amazon, eBay năm 1995; phân loại 6 mô hình giao dịch (B2B, B2C, B2E, C2B, C2C và Chính phủ điện tử); làm rõ 6 đặc điểm bản chất và 7 tiêu chí phân biệt giữa TMĐT với thương mại truyền thống (hình thức thực hiện, phạm vi phi biên giới, tối thiểu ba chủ thể tham gia, thông tin giao dịch trực tuyến, vốn và chi phí mặt bằng thấp, sự xuất hiện của hàng hóa/dịch vụ số, và phương thức thanh toán điện tử).
- Lý luận về quản lý thuế TMĐT: Xác định khái niệm, 4 nguyên tắc, 6 yêu cầu quản lý (kiểm soát người nộp thuế và căn cứ tính thuế, đảm bảo nguồn thu NSNN, xây dựng quy trình quản lý phù hợp, nâng cao tính tự tuân thủ, hiện đại hóa công nghệ thông tin, tăng cường phối hợp liên ngành) cùng 5 nội dung nghiệp vụ (đăng ký thuế theo Thông tư số 95/2016/TT-BTC, kê khai - nộp thuế, thanh tra - kiểm tra, giải quyết khiếu nại - tranh chấp, và tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế).
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích thực tiễn tại Trung Quốc (quản lý qua kiểm soát dòng tiền và các tổ chức trung gian thanh toán được cấp phép, áp dụng biện pháp chặn giao dịch nếu không tuân thủ); Liên minh Châu Âu (đánh thuế GTGT đối với dịch vụ số xuyên biên giới từ ngày 01/01/2015 thông qua cổng thông tin trực tuyến tập trung, mang lại hơn 3 tỷ Euro theo số liệu OECD); và Úc (áp dụng ngưỡng doanh thu 75.000 AUD đối với nhà cung cấp nước ngoài từ tháng 7/2017). Từ đó, tác giả rút ra 3 bài học cho Việt Nam: thành lập bộ phận chuyên trách về thuế TMĐT tại cơ quan thuế các cấp; xây dựng cơ chế thu thập dữ liệu người nộp thuế qua kỹ năng nghiệp vụ kết hợp công cụ chuyên biệt hoặc ủy nhiệm bên thứ ba; hoàn thiện khung pháp lý và chính sách thuế độc lập cho hoạt động TMĐT.
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng thị trường TMĐT và nghiệp vụ hành thu của cơ quan thuế:
- Thực trạng phát triển TMĐT:
- Tình hình sử dụng Internet: Việt Nam có 72,10 triệu người sử dụng Internet vào tháng 1/2022 (đạt tỷ lệ 73,2% dân số), tăng gấp 36 lần so với giai đoạn trước năm 2000 (khoảng 2 triệu người). Thời gian sử dụng Internet trung bình của người dân trong độ tuổi 16–64 đạt 6 giờ 38 phút/ngày.
- Sự phát triển của các sàn TMĐT: Thống kê của Iprice.vn quý IV/2021 chỉ ra 4 sàn có lượng truy cập lớn nhất mỗi tháng gồm Shopee VN (88,95 triệu lượt), Lazada VN (20,63 triệu lượt), Tiki (17,86 triệu lượt) và Sendo (hơn 4,9 triệu lượt). Thị trường ghi nhận các dòng vốn lớn như Tiki nhận 258 triệu USD từ AIA (tháng 11/2021), Lazada nhận 4 tỷ USD từ Alibaba (giữa năm 2021). Sàn nông sản điện tử Postmart.vn của Bưu điện Việt Nam đặt mục tiêu hỗ trợ hơn 7,5 triệu hộ nông dân đưa sản phẩm lên sàn.
- Thương mại qua mạng xã hội: Sự trỗi dậy của các nền tảng Facebook (Facebook Shop), Instagram (Shopping từ năm 2020) và TikTok (TikTok Shop) tạo nên môi trường kinh doanh qua hình thức phát trực tiếp (livestream).
- Phương tiện thanh toán: Thanh toán tiền mặt (COD) vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt qua ví điện tử (ShopeePay, MoMo, ZaloPay) và thẻ tín dụng liên kết còn khiêm tốn do rào cản về niềm tin của người tiêu dùng và cơ chế bảo vệ quyền lợi chưa đồng bộ.
- Tăng trưởng trong đại dịch Covid-19: TMĐT duy trì tốc độ phát triển 17% trong hai năm 2020 và 2021. Năm 2021, doanh thu TMĐT bán lẻ đạt 13,7 tỷ USD, chiếm 7% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước, mức chi tiêu trung bình đạt 270 USD/người. Điển hình trong dịch, chương trình kết nối đã tiêu thụ 9.000 tấn vải thiều Bắc Giang qua 1 triệu đơn hàng trên các sàn Shopee, Lazada, Tiki, Sendo; startup nông sản Foodmap huy động thành công 2,9 triệu USD.
- Thực trạng quản lý thuế đối với TMĐT:
- Hệ thống văn bản pháp lý: Tổng hợp hệ thống văn bản từ Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đến Nghị định số 85/2021/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC. Tại Tổng cục Thuế, Quyết định số 404/QĐ-TCT ngày 03/04/2017 đã thành lập Ban chỉ đạo và 3 tổ giúp việc về quản lý thuế TMĐT.
- Quản lý thông tin người nộp thuế: Số liệu từ Hệ thống quản lý hoạt động TMĐT (Bộ Công Thương) đến ngày 16/04/2022 ghi nhận 43.078 website TMĐT bán hàng, 1.192 website cung cấp dịch vụ TMĐT, 392 ứng dụng bán hàng và 256 ứng dụng cung cấp dịch vụ TMĐT.
- Kết quả hành thu tại TP. Hà Nội: Thực hiện Công văn số 42413/CT-TTr1 ngày 20/06/2018, tính đến tháng 11/2021, Cục Thuế Hà Nội quản lý 465 cá nhân có thu nhập từ các tổ chức nước ngoài (Google, Facebook, Apple...) với số thuế đã nộp đạt 56,1 tỷ đồng; rà soát 3.388 cơ sở kinh doanh online có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (trong đó 1.322 cơ sở đã nộp 12,1 tỷ đồng); thu 1 tỷ đồng từ 49 hộ cho thuê nhà trực tuyến. Riêng Chi cục Thuế quận Hoàng Mai trong 10 tháng đầu năm 2021 thu được 23,7 tỷ đồng từ 30 cá nhân có thu nhập từ nước ngoài nhờ phối hợp với cảnh sát khu vực và ban quản lý dân cư.
- Kết quả hành thu tại TP. Hồ Chí Minh: Cơ quan thuế phối hợp các doanh nghiệp chuyển phát, logistics thu thập thông tin dịch vụ giao hàng thu hộ (COD). Đến tháng 7/2021, Cục Thuế thành phố rà soát được 14.686 tổ chức và cá nhân kinh doanh TMĐT với số tiền thu hộ gần 15,1 nghìn tỷ đồng (từ dữ liệu năm 2017–2018). Đồng thời, thông qua dữ liệu 4 ngân hàng thương mại cung cấp, thành phố đã thu được 20 tỷ đồng và 48 triệu USD từ 4.784 tổ chức, cá nhân phát sinh thu nhập từ nước ngoài (Apple, Google, YouTube, Facebook, Netflix) trong năm 2020 và quý I/2021.
- Quản lý căn cứ tính thuế: Cục Thuế TP. Hà Nội phân loại người nộp thuế thành 5 nhóm đối tượng (cá nhân/tổ chức có thu nhập từ nền tảng nước ngoài; kinh doanh bán hàng trực tuyến; cho thuê nhà trực tuyến; tổ chức/cá nhân chi trả dịch vụ điện tử cho nhà thầu nước ngoài; và doanh nghiệp vận hành sàn giao dịch TMĐT). Triển khai Thông tư số 80/2021/TT-BTC xác lập trách nhiệm kê khai, nộp thuế của các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT tại Việt Nam
Dựa trên các bài học kinh nghiệm quốc tế đã đúc kết và kết quả đánh giá thực trạng hành thu, tác giả trình bày hệ thống giải pháp và kiến nghị:
- Định hướng quản lý: Đảm bảo mục tiêu huy động đầy đủ nguồn thu cho NSNN; xây dựng cơ chế quản lý thích ứng với mô hình kinh tế số; đảm bảo nguyên tắc công bằng giữa kinh doanh truyền thống và kinh doanh điện tử; từng bước chuẩn hóa và tự động hóa quy trình quản lý thuế.
- Các nhóm kiến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định hướng dẫn chi tiết Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Thông tư số 80/2021/TT-BTC; làm rõ trách nhiệm pháp lý của chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT trong việc cung cấp thông tin, khấu trừ và nộp thuế thay cho các cá nhân kinh doanh trên sàn.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy: Thành lập các bộ phận chuyên trách về quản lý thuế TMĐT tại các Cục Thuế và Chi cục Thuế trọng điểm nhằm theo dõi, phân tích dữ liệu chuyên sâu.
- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành: Ký kết quy chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa cơ quan thuế với Bộ Công Thương (quản lý website/sàn), Bộ Thông tin và Truyền thông (nhà mạng viễn thông, địa chỉ IP), Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại (truy vết dòng tiền giao dịch), cùng các đơn vị dịch vụ logistics/bưu chính chuyển phát (kiểm soát dòng hàng hóa và tiền thu hộ COD).
- Đầu tư công nghệ thông tin: Ứng dụng công nghệ xử lý dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc rà soát, đối chiếu thông tin tự động, nhận diện các giao dịch đáng ngờ và phát hiện hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
- Đổi mới công tác tuyên truyền, hỗ trợ: Nâng cao chất lượng dịch vụ thuế điện tử; gửi thông báo, hướng dẫn trực tiếp qua email, tin nhắn điện thoại đến từng người kinh doanh trực tuyến nhằm nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh thực tế về công tác quản lý thuế đối với TMĐT tại Việt Nam thông qua các dữ liệu thực chứng:
| Tiêu chí / Chỉ số thống kê |
Giá trị ghi nhận |
Nguồn trích dẫn trong văn bản |
| Số lượng người dùng Internet tại Việt Nam (tháng 1/2022) |
72,10 triệu người (73,2% dân số) |
Datareportal / Kepios |
| Lượng truy cập sàn TMĐT lớn nhất mỗi tháng (quý IV/2021) |
Shopee: 88,95 triệu; Lazada: 20,63 triệu; Tiki: 17,86 triệu; Sendo: 4,9 triệu lượt |
Iprice.vn |
| Doanh thu TMĐT bán lẻ Việt Nam năm 2021 |
13,7 tỷ USD (chiếm 7% tổng mức bán lẻ) |
Cục TMĐT và Kinh tế số / Bộ Công Thương |
| Kết quả thu thuế từ cá nhân có thu nhập từ nước ngoài tại Hà Nội (đến 11/2021) |
56,1 tỷ đồng (từ 465 cá nhân) |
Cục Thuế TP. Hà Nội |
| Thuế TMĐT từ cá nhân có thu nhập nước ngoài tại Chi cục Thuế Hoàng Mai (10 tháng đầu 2021) |
23,7 tỷ đồng (từ 30 cá nhân) |
Chi cục Thuế quận Hoàng Mai |
| Số tiền thu hộ COD được Cục Thuế TP.HCM rà soát (dữ liệu 2017–2018) |
Gần 15,1 nghìn tỷ đồng (từ 14.686 đối tượng) |
Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh |
| Kết quả thu qua rà soát 4 ngân hàng tại TP.HCM (năm 2020 - quý I/2021) |
20 tỷ đồng và 48 triệu USD (từ 4.784 đối tượng) |
Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh |
Về đóng góp học thuật và thực tiễn:
- Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý thuế gắn liền với các đặc thù của giao dịch số và các mô hình kinh doanh trực tuyến hiện đại.
- Công trình giải quyết được các khoảng trống của các nghiên cứu giai đoạn trước bằng việc cập nhật số liệu phát triển TMĐT trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành như Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Nghị định số 85/2021/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC.
- Tác giả phân tích cụ thể các mô hình phối hợp liên ngành thực tế tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (với ngân hàng thương mại, đơn vị trung gian thanh toán, công ty giao nhận COD, lực lượng công an khu vực), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính ứng dụng đối với ngành thuế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn do điều kiện nghiên cứu:
- Giới hạn về nguồn lực và thời gian: Là công trình tốt nghiệp đại học đầu tay của sinh viên năm cuối, tác giả tự nhận định kiến thức và thời gian nghiên cứu còn có những giới hạn nhất định.
- Phạm vi dữ liệu: Các số liệu thực nghiệm chủ yếu dừng lại ở mốc cuối năm 2021 và các tháng đầu năm 2022; chưa thể đánh giá toàn diện tác động dài hạn của các chính sách mới ban hành như Thông tư số 80/2021/TT-BTC (vốn mới bắt đầu có hiệu lực thi hành gần thời điểm hoàn thiện đề tài).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài; mở rộng phân tích các hình thức thương mại điện tử mới nổi như tiếp thị liên kết (affiliate marketing), bán hàng qua phát sóng trực tiếp (livestream) trên mạng xã hội và các giao dịch tài sản số; đồng thời xây dựng các mô hình định lượng nhằm ước tính mức độ thất thu thuế TMĐT tại các địa phương trên toàn quốc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính, Thuế, Quản trị Kinh doanh và Luật Kinh tế: Tài liệu cung cấp bức tranh tổng quan có hệ thống về cơ sở lý luận, các mô hình TMĐT, khung khổ pháp lý thuế và phương pháp tiếp cận nghiên cứu thực tiễn quản lý thuế trong nền kinh tế số.
- Cán bộ quản lý và công chức ngành thuế: Phần phân tích thực trạng nghiệp vụ tại Cục Thuế TP. Hà Nội và Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh mang lại giá trị tham khảo cụ thể về cách thức phân loại 5 nhóm đối tượng người nộp thuế, quy trình rà soát dòng tiền qua ngân hàng thương mại và cơ chế khai thác dữ liệu từ các đơn vị vận chuyển giao hàng thu hộ COD.
- Các nhà nghiên cứu chính sách: Cung cấp nguồn cứ liệu tổng hợp từ các tổ chức quốc tế (OECD) và kinh nghiệm thực thi của Trung Quốc, EU, Úc để phục vụ việc tham chiếu, hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với các giao dịch xuyên biên giới.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận phân loại các mô hình thương mại điện tử nào và chỉ ra những điểm khác biệt căn bản nào so với thương mại truyền thống?
Khóa luận phân loại TMĐT thành 6 mô hình chính gồm B2B, B2C, B2E, C2B, C2C và Chính phủ điện tử. So với thương mại truyền thống, tác giả chỉ ra 7 điểm khác biệt cốt lõi: hình thức thực hiện hoàn toàn qua phương tiện điện tử kết nối mạng; phạm vi hoạt động phi biên giới trên quy mô toàn cầu; chủ thể tham gia bắt buộc có thêm bên thứ ba (nhà cung cấp mạng, trung gian thanh toán, cơ quan chứng thực); thông tin sản phẩm có sẵn trên mạng mà không cần đàm phán trực tiếp; chi phí đầu tư ban đầu và vận hành thấp hơn do không tốn mặt bằng kho bãi; xuất hiện nhóm hàng hóa/dịch vụ số hóa mới; và phương thức thanh toán ưu tiên sử dụng tiền điện tử hoặc giao dịch ngân hàng thay cho tiền mặt.
Những bài học kinh nghiệm quốc tế nào được tác giả đúc kết để áp dụng cho công tác quản lý thuế TMĐT tại Việt Nam?
Từ thực tiễn quản lý qua cổng thanh toán được cấp phép tại Trung Quốc, cơ chế đánh thuế GTGT dịch vụ số qua cổng trực tuyến tập trung tại EU, và quy định ngưỡng doanh thu 75.000 AUD tại Úc, tác giả rút ra 3 bài học cho Việt Nam: (1) Thành lập bộ phận chuyên trách về quản lý thuế TMĐT tại cơ quan thuế các cấp; (2) Thu thập và xác minh thông tin người nộp thuế bằng kỹ năng nghiệp vụ của công chức thuế kết hợp ứng dụng công cụ chuyên biệt hoặc ủy quyền bên thứ ba hỗ trợ; (3) Hoàn thiện đồng bộ quy định pháp luật và xây dựng chính sách thuế độc lập, phù hợp với đặc thù giao dịch TMĐT.
Cục Thuế TP. Hà Nội đã phân loại người nộp thuế trong lĩnh vực TMĐT như thế nào và kết quả thu thuế đạt được ra sao tính đến cuối năm 2021?
Cục Thuế TP. Hà Nội phân chia người nộp thuế thành 5 nhóm để theo dõi: (1) Cá nhân/hộ kinh doanh/tổ chức có thu nhập từ các tổ chức nước ngoài (Google, Facebook, Apple...); (2) Cá nhân/hộ kinh doanh bán hàng trực tuyến; (3) Cá nhân/hộ kinh doanh/tổ chức cho thuê nhà trực tuyến qua ứng dụng; (4) Tổ chức/cá nhân chi trả thanh toán dịch vụ điện tử cho nhà thầu nước ngoài; (5) Doanh nghiệp tổ chức, điều hành sàn TMĐT (Shopee, Lazada, Tiki...). Tính đến tháng 11/2021, Hà Nội đã thu 56,1 tỷ đồng từ 465 cá nhân có thu nhập từ tổ chức nước ngoài; rà soát 3.388 cơ sở kinh doanh online có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (1.322 cơ sở đã nộp 12,1 tỷ đồng); và thu 1 tỷ đồng từ 49 hộ cho thuê nhà trực tuyến. Riêng Chi cục Thuế quận Hoàng Mai thu được 23,7 tỷ đồng từ 30 cá nhân có thu nhập từ nước ngoài trong 10 tháng đầu năm 2021.
Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh đã triển khai những giải pháp nghiệp vụ liên ngành nào để thu thập dữ liệu và xử lý các đối tượng kinh doanh TMĐT?
Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh đã triển khai hai kênh phối hợp nghiệp vụ liên ngành quan trọng: (1) Xây dựng cơ chế yêu cầu các doanh nghiệp dịch vụ logistics, giao nhận hàng hóa cung cấp thông tin các tổ chức, cá nhân kinh doanh trên mạng xã hội có sử dụng dịch vụ giao hàng thu hộ tiền (COD), qua đó rà soát được 14.686 đối tượng với tổng số tiền thu hộ gần 15,1 nghìn tỷ đồng (theo dữ liệu năm 2017–2018); (2) Phối hợp với 4 ngân hàng thương mại để rà soát dòng tiền chi trả từ các tổ chức nước ngoài (Apple, Google, YouTube, Facebook, Netflix), qua đó thu được 20 tỷ đồng và 48 triệu USD từ 4.784 tổ chức, cá nhân trong năm 2020 và quý I/2021.
Thực trạng sử dụng các phương tiện thanh toán trong hoạt động TMĐT tại Việt Nam được tác giả phân tích như thế nào?
Tác giả phân tích rằng dù thị trường TMĐT tăng trưởng nhanh, số lượng giao dịch sử dụng phương thức thanh toán tiền mặt (COD) tại Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn. Mặc dù các sàn TMĐT và ngân hàng thương mại đã tích cực liên kết phát hành thẻ tín dụng (Sacombank Tiki Platinum, VPBank-Shopee) và đẩy mạnh ví điện tử (ShopeePay, MoMo, ZaloPay), tỷ lệ thanh toán không tiền mặt vẫn còn khiêm tốn. Trích dẫn nhận định từ Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, tác giả chỉ ra nguyên nhân chủ yếu là do niềm tin của người tiêu dùng đối với giao dịch trực tuyến còn hạn chế và các chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa thực sự đồng bộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Tâm là công trình nghiên cứu chuyên khảo phản ánh toàn diện thực trạng phát triển thương mại điện tử và công tác quản lý thuế đối với lĩnh vực này tại Việt Nam giai đoạn 2018–2022. Khóa luận đã hệ thống hóa lý luận chuẩn xác, tổng hợp kinh nghiệm quản lý quốc tế hữu ích, đồng thời đưa ra các số liệu thực chứng cụ thể về kết quả hành thu tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn, thành lập bộ phận chuyên trách và thắt chặt cơ chế phối hợp liên ngành, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách và quản lý thuế kinh tế số tại Việt Nam.