CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử luôn được sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan thuế của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có sự phát triển mạnh mẽ về lĩnh vực thương mại điện tử. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực này dưới các hình thức như các báo cáo, chuyên đề, đề tài nghiên cứu, sách tham khảo, sách giáo trình. Tình hình nghiên cứu quốc tế - Nghiên cứu với tựa đề “Taxation and electronic commerce - implementing the Ottawa taxation framework conditions”, OECD (2001) phản ánh diễn tiến của việc thực thi các Điều kiện Khuôn khổ chung về Thuế đã được thống nhất tại Ottawa 1998.
Điều kiện khuôn khổ chung về Thuế Ottawa nêu ra một số nguyên tắc định hướng các Chính phủ trong cách tiếp cận về TMĐT. Điều kiện khuôn khổ chung nhấn mạnh TMĐT phải được đối xử tương tự như với thương mại truyền thống, tránh phân biệt đối xử. Khuôn khổ chung này được các nước thành viên OECD, các nước không phải là thành viên OECD rất hưởng ứng. Trong tài liệu này nhóm nghiên cứu đã đề cập công tác quản lý thuế đối với TMĐT được tập trung vào các nội dung: dịch vụ hỗ trợ NNT, xác định được đối tượng nộp thuế và những thông tin cần thiết phục vụ quản lý thuế, cuối cùng là thu thuế và kiểm soát nợ thuế.
Trong dịch vụ hỗ trợ NNT cơ quan thuế cần sử dụng các công nghệ và các thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng phục vụ NNT. Công tác quản lý cần chú trọng đến vấn đề tìm kiếm thông tin và xác minh thông tin NNT. Đối với công tác thu nợ, cơ quan thuế cần đảm bảo hệ thống thu nợ và kiểm soát thu nợ thích hợp. - Nghiên cứu khác của OECD với tựa đề “Tax administration aspects of electronic commerce: responding to the challenges and opportunities” (2001) đã xây dựng được các yếu tố khung quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT bao gồm: dịch vụ NNT, vấn đề nhận dạng và nhu cầu thông tin, thu và kiểm soát thuế.
Dịch vụ NNT cần được phát triển theo hướng cải cách để đơn giản hóa hệ thống thuế nhằm giảm 3 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng _________________________________________________________________ thiểu chi phí tuân thủ thuế, đặc biệt đối với hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa. Công tác quản lý thuế đối với TMĐT cần chú trọng đến nhận dạng doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng công tác quản lý thuế cần phải được đặt trong sự tương quan về công nghệ và các mô hình kinh doanh TMĐT thì mới có thể khai thác và giải quyết được các thách thức về thuế đối với hoạt động TMĐT. - Bài viết “Tax policy and Administration in an Era of Big Data” của Niall Campbell viết năm 2014 đã đề cập đến vấn đề sử dụng phân tích dữ liệu lớn để giảm thiểu thất thu thuế, đồng thời thu thập và chia sẻ thông tin qua biên giới và tăng cường sự hoạt động của cơ quan thuế ngày càng hiệu quả hơn.
Trong bài viết tác giả nhận định rằng nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang bắt đầu hướng đến việc tận dụng các dữ liệu và phân tích dữ liệu lớn nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện các bất thường và gian lận trong quản lý thuế. Sự tự động hóa và yếu tố hỗ trợ của các công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quản lý thuế. Cơ quan thuế thay vì dành thời gian cho các vụ việc thanh tra, kiểm tra, xu hướng hiện nay đã chuyển dịch theo hướng khuyến khích NNT thường xuyên đánh giá, kiểm soát các hoạt động của họ để báo cáo với cơ quan thuế và đồng thời gửi các điều chỉnh đến cơ quan thuế nếu tồn tại lỗi trong giao dịch. Các thông tin này sẽ giúp cơ quan thuế cải thiện được hiệu quả hoạt động nội bộ qua việc phân tích và xử lý thông tin từ dữ liệu lớn trong quản lý thuế.
- Cuốn sách của Subhajit Basu được phát hành năm 2007 có tựa đề “Global Perspectives on e-commerce taxation law” cũng đã đề cập đến tác động của sự phát triển thương mại điện tử đến hệ thống quản lý thuế. Nội dung sách đã phân tích việc áp dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp cùng với các nguyên tắc thuế trong lĩnh vực này. Tuy nhiên tài liệu này vẫn chưa đưa ra các quan điểm thuế phù hợp dựa trên đặc thù của từng ngành nghề doanh nghiệp. - Bài viết “Fair taxation on the Digital Economy của tác giả Wawan Juswanto và Rebecca Simms năm 2017 cũng đã phân tích khá toàn diện về thuế đối với nền kinh tế số gồm những lợi ích và rủi ro của nền kinh tế số và những vấn đề về thuế trong nền kinh tế số.
Từ những nhận thức về rủi ro về thuế trong nền kinh tế số, bài viết đã đưa ra một kế hoạch hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận dựa trên kế hoạch hành động của OECD. Nhóm tác giả nhận định rằng sự phát triển 4 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng _________________________________________________________________ của nền kinh tế số là tất yếu. Vì vậy, cần thiết phải có một cuộc cách mạng trong tư duy của các nhà hoạch định chính sách nhằm đối phó với những thách thức về thuế đặt ra trong nền kinh tế số. - Chris Sanger, Rob Thomas (2018), “New digital tax policies: What, when, where, how and by whom?”: Bài viết bàn về vấn đề chính sách thuế kỹ thuật số mới.
Các tác giả cho rằng xu hướng hiện nay khi bàn về thuế kỹ thuật số không phải bàn về vấn đề tránh thuế hay địa điểm phát sinh thu nhập, mà vấn đề chủ yếu hiện nay là sự phân chia quyền đánh thuế giữa các quốc gia cho rằng công dân của họ đóng góp vào lợi nhuận được thực hiện bởi một số công ty tập trung kỹ thuật số. Bài viết đề cập đến xu hướng của Châu Âu và một số quốc gia đã có những cân nhắc về chính trị và doanh thu để áp dụng biện pháp thuế đơn phương đối với hoạt động kỹ thuật số. Sẽ có nhiều ý kiến đồng ý và không đồng ý khi áp dụng biện pháp thuế đơn phương, bao gồm cả các yếu tố chính trị và lợi ích kinh tế, tất cả sẽ tác động đến cuộc tranh luận về thuế kỹ thuật số hiện nay. Các quốc gia cần có một kế hoạch hành động và các đàm phán đa phương để có thể áp dụng các biện pháp thuế đơn phương được hiệu quả.
Tình hình nghiên cứu trong nước - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Thuế của ThS Lê Hồng Hải (2008) về “Thuế đối với Thương mại điện tử tại Việt Nam – thực trạng và giải pháp” với kết cấu 3 chương đã cung cấp bức tranh về thuế đối với TMĐT trên cả góc độ lý thuyết và thực tiễn. Đề cập đến đặc điểm của TMĐT, tác giả cho rằng vai trò quan trọng của TMĐT là phải hiểu được cách làm cho các công ty sử dụng nó chấp nhận sự thay đổi. TMĐT phát triển đặt ra nhiều thách thức về mặt chính sách thuế và cả công tác quản lý thuế. Nghiên cứu đưa ra những tác động của TMĐT đến chính sách thuế tiêu dùng, thuế thu nhập trên một số khía cạnh và tác động của TMĐT đến quản lý thuế trên các nội dung thanh tra, xác định giá chuyển nhượng và kê khai thuế điện tử, cung cấp dịch vụ cho đối tượng nộp thuế thông qua công cụ điện tử.
Nghiên cứu nhấn mạnh yếu tố quan trọng nhất của quá trình thanh tra TMĐT là thanh tra tại chỗ và các dữ liệu có thể so sánh được là việc cần thiết để thanh tra có hiệu quả trong môi trường điện tử. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cho công tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT theo hướng chuyên sâu hơn trong quản lý. Một giải pháp quan trọng 5 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng _________________________________________________________________ được tác giả đề xuất về vấn đề đăng ký thuế nhằm đảm bảo công bằng trong kinh doanh theo hướng xây dựng và phát triển ứng dụng nhận dạng đối tượng kinh doanh thông qua cơ sở thường trú không phân biệt có hay không có hiện diện tại Việt Nam đều phải đăng ký thuế để thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế. - Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Văn Minh (2012)- Trường Đại học Thương mại về “Thuế trong TMĐT- Kinh nghiệm quốc tế và phương hướng vận dụng ở Việt Nam”: Bằng việc nghiên cứu các quan điểm, chính sách cũng như thực tiễn áp dụng thuế đối với TMĐT của một số quốc gia và khu vực điển hình trên thế giới, tác giả đã so sánh với thực tiễn của Việt Nam và đề xuất các phương hướng và giải pháp vận dụng chính sách thuế trong TMĐT ở Việt Nam.
Các giải pháp đưa ra mang tính tổng quát nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu và tạo lập những tiền đề nhất định cho việc triển khai hệ thống thuế trong TMĐT ở Việt Nam. - Bài báo bài báo đăng trên Tạp chí Tài chính năm 2015 của ThS Nguyễn Quang Tiến – Tổng cục Thuế về “Hiện trạng thu thuế thương mại điện tử tại Việt Nam”, đã thống kê các hình thức kinh doanh TMĐT theo các tiêu chí khác nhau gồm: nền tảng công nghệ, theo hình thức giao dịch, theo chủ thể tham gia giao dịch, theo chủ quyền đánh thuế của quốc gia và vùng lãnh thổ. Tác giả phân tích khá chi tiết hiện trạng thu thuế TMĐT của cơ quan thuế trong đó đi sâu vào phản ánh chức năng thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế. Từ thực tiễn công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp kinh doanh TMĐT bài báo đã đưa ra được một số sai phạm có tính chất điển hình trong quản lý thuế đối với TMĐT làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước từ hoạt động kinh doanh TMĐT.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính của Ths Nguyễn Quang Tiến (2016) về “Giải pháp hoàn thiện chính sách và quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại điện tử” đã tập trung phản ánh được những vấn đề cơ bản về mặt thực trạng chính sách thuế cũng như công tác quản lý thuế trong hai giai đoạn cụ thể từ năm 2011- 2015 và từ năm 2016 đến năm 2017 với nhiều kết quả đạt được trong công tác thanh tra thuế.