Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự bùng nổ của thương mại điện tử (TMĐT) trên phạm vi toàn cầu đã làm thay đổi căn bản phương thức kinh doanh truyền thống. Tại Việt Nam, theo số liệu khảo sát từ Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), TMĐT duy trì tốc độ tăng trưởng quý I/2023 trên 22% so với cùng kỳ và dự báo quy mô cả năm đạt trên 20 tỷ USD. Báo cáo của tổ chức Kepios ghi nhận năm 2022 Việt Nam có 72 triệu người tiêu dùng kỹ thuật số (chiếm 73% dân số), trong đó 52 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến với tổng chi tiêu đạt 12,4 tỷ USD (tăng 35,4% so với năm 2021).
Sự phát triển nhanh chóng của các mô hình kinh doanh số, đặc biệt là các giao dịch xuyên biên giới và giao dịch trên không gian mạng, đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý thuế. Thực trạng thất thu ngân sách nhà nước (NSNN), tình trạng cá nhân và tổ chức kinh doanh không đăng ký thuế, chia nhỏ doanh thu hoặc ẩn danh trên mạng xã hội đòi hỏi hệ thống pháp luật quản lý thuế phải được hoàn thiện đồng bộ.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về quản lý thuế TMĐT tại Việt Nam và khảo sát kinh nghiệm lập pháp tại một số quốc gia/khu vực trên thế giới.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là quá trình thực hiện các quy định pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm lãnh thổ Việt Nam và mở rộng khảo sát kinh nghiệm tại Liên minh Châu Âu (EU), Trung Quốc, Hàn Quốc. Phạm vi nghiên cứu về thời gian khai thác các dữ liệu thống kê từ năm 2011 đến năm 2022 (trọng tâm giai đoạn 2016–2020), từ đó đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật theo lộ trình 5–10 năm tính từ thời điểm quý IV/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận pháp lý chuyên ngành luật học, kết hợp khung hướng dẫn quản trị thuế quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:
- Khái niệm và đặc trưng TMĐT dựa trên tiếp cận của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Luật mẫu về TMĐT năm 1996 của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam.
- Khái niệm quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế được tiếp cận theo nghĩa hẹp, căn cứ theo Giáo trình Khoa học Quản lý (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002), Giáo trình Quản lý Hành chính Nhà nước (Học viện Hành chính Quốc gia, 1998) và Giáo trình Quản lý Thuế (Học viện Tài chính, 2010).
- Cấu trúc pháp luật quản lý thuế TMĐT dựa trên các trụ cột khuyến nghị của OECD tại Hội nghị Ottawa (1998), Báo cáo năm 2001 của Ủy ban Các vấn đề Tài chính (CFA) và Báo cáo tháng 3/2019 của OECD về vai trò của nền tảng số trong thu thuế giá trị gia tăng (GTGT).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam áp dụng gồm: Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14; Nghị định số 126/2020/NĐ-CP; Nghị định số 91/2022/NĐ-CP; Nghị định số 125/2020/NĐ-CP; Thông tư số 105/2020/TT-BTC; Thông tư số 80/2021/TT-BTC; Thông tư số 40/2021/TT-BTC; Thông tư số 103/2014/TT-BTC; Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2007 (sửa đổi, bổ sung); và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp liệt kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh luật học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu đã công bố (luận án của TS. Phạm Nữ Mai Anh năm 2019, luận văn của ThS. Đặng Vân Anh năm 2021, đề tài cấp Bộ của TS. Nguyễn Quang Tiến năm 2016), các bài báo khoa học, báo cáo chuyên đề của Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và các tổ chức quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động thương mại điện tử và pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử
Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về TMĐT và pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động này. Về mặt bản chất, TMĐT được xác định là tổng hợp các hoạt động thương mại được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin có kết nối mạng Internet. Tác giả phân tích 4 đặc trưng cốt lõi của TMĐT:
- Không diễn ra trên môi trường vật lý, văn bản giấy tờ được thay thế hoàn toàn bằng dữ liệu điện tử, tạo ra thị trường phi biên giới.
- Phụ thuộc chặt chẽ vào hạ tầng công nghệ và trình độ công nghệ thông tin của chủ thể tham gia.
- Phụ thuộc vào mức độ số hóa của nền kinh tế (từ mức cơ bản như email/website đến tích hợp toàn diện giải pháp TMĐT).
- Tốc độ giao dịch diễn ra tức thời nhờ ứng dụng công nghệ thông tin.
Về phân loại, khóa luận làm rõ 5 mô hình TMĐT chính gồm: Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B - dẫn chứng các nền tảng như 1688.com, DHgate.com); Doanh nghiệp với Người tiêu dùng (B2C - theo số liệu của Liên Hợp Quốc năm 2021, tỷ trọng doanh số bán lẻ TMĐT tăng từ 16% lên 19% năm 2020, doanh thu B2C của 13 công ty hàng đầu đạt 2,9 nghìn tỷ USD); Người tiêu dùng với Người tiêu dùng (C2C); Doanh nghiệp với Cơ quan nhà nước (B2G); và Cơ quan nhà nước với Người lao động (G2E).
Đối với lý luận về pháp luật quản lý thuế TMĐT, tác giả xác định đây là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với người nộp thuế và các bên liên quan. Đặc điểm của pháp luật quản lý thuế TMĐT thể hiện ở: đối tượng điều chỉnh là các giao dịch số hóa phức tạp có ứng dụng chuỗi công nghệ (Blockchain, IoT, Big Data, AI); tính chất nhạy cảm đòi hỏi cân bằng giữa quản lý và khuyến khích phát triển; và phụ thuộc lớn vào mức độ hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật của cơ quan thuế.
Cấu trúc pháp luật quản lý thuế TMĐT được xây dựng dựa trên khung định hướng của OECD bao gồm các trụ cột: phát triển dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế điện tử; định danh và thu thập thông tin quản lý; cơ chế kiểm soát và cưỡng chế thu thuế; quy trình đăng ký thuế trực tuyến thuận tiện; giải pháp xác thực đối tượng giao dịch (thông qua địa chỉ IP, tài khoản thanh toán, dữ liệu sinh trắc học); và cơ chế kiểm toán, trao đổi thông tin người nộp thuế xuyên biên giới giữa cơ quan thuế các quốc gia.
Chương II: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam
Chương II phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý thuế TMĐT tại Việt Nam và kinh nghiệm lập pháp quốc tế.
Tại Việt Nam, khung pháp lý được điều chỉnh qua nhiều văn bản:
- Đăng ký thuế: Điều 17, Điều 30 đến Điều 41 Luật Quản lý thuế 2019 và Thông tư 105/2020/TT-BTC quy định nghĩa vụ bắt buộc sử dụng mã số thuế. Điểm mới quan trọng là quy định nhà cung cấp nước ngoài (NCCNN) không có cơ sở thường trú tại Việt Nam phải trực tiếp hoặc ủy quyền đăng ký, khai thuế, nộp thuế. Khoản 2 Điều 33 Luật Quản lý thuế 2019 ấn định thời hạn đăng ký thuế trực tiếp là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ.
- Kê khai, nộp thuế: Điều 4 Thông tư 40/2021/TT-BTC xác định cá nhân, hộ kinh doanh có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thuộc diện chịu thuế GTGT và thuế TNCN. Điểm c Khoản 5 Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân có trách nhiệm khai thuế và nộp thay thuế cho cá nhân. Theo Thông tư 40/2021/TT-BTC, sàn giao dịch TMĐT có trách nhiệm cung cấp thông tin và kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân kinh doanh trên sàn dựa trên dòng tiền thu nhận (kể cả hình thức COD).
- Quản lý nhà cung cấp nước ngoài: Thông tư 80/2021/TT-BTC (Chương IX) và Cổng thông tin điện tử dành cho NCCNN (vận hành từ ngày 21/3/2022) ghi nhận kết quả: có 36 NCCNN đăng ký, kê khai và nộp thuế qua cổng. Trong đó, 6 NCCNN lớn (Meta, Google, Microsoft, TikTok, Netflix, Apple) chiếm 90% thị phần dịch vụ TMĐT xuyên biên giới đã nộp hàng trăm tỷ đồng (riêng Meta nộp 16,8 triệu EUR, TikTok nộp 81,7 tỷ VNĐ).
- Thanh tra, kiểm tra và cung cấp dữ liệu: Nghị định 91/2022/NĐ-CP quy định sàn TMĐT cung cấp thông tin định kỳ hàng quý qua Cổng Thông tin TMĐT của Tổng cục Thuế (vận hành từ ngày 15/12/2022). Đến nay đã có 334 sàn gửi dữ liệu. Số liệu cung cấp cho thấy: Quý IV/2022 có 159.218 cá nhân và 31.882 tổ chức kinh doanh trên sàn với 507 triệu lượt giao dịch, tổng giá trị 15.272 tỷ đồng; Quý I/2023 có 64.327 cá nhân và 22.840 tổ chức với 9 tỷ lượt giao dịch, tổng giá trị 11.478 tỷ đồng.
- Xử lý vi phạm: Điều 6, các Điều 141–146 Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 125/2020/NĐ-CP điều chỉnh vi phạm hành chính. Điều 76 và Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 xử lý tội trốn thuế với cá nhân (phạt tiền đến 4,5 tỷ đồng hoặc phạt tù đến 7 năm) và pháp nhân thương mại (có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn).
Đối với kinh nghiệm quốc tế, tác giả tổng hợp thực trạng lập pháp của ba thị trường lớn:
| Quốc gia / Khu vực |
Khung pháp lý trọng tâm |
Cơ chế quản lý thuế TMĐT đặc thù |
| Liên minh Châu Âu (EU) |
Quy định thuế GTGT (VAT) TMĐT mới (áp dụng từ 01/7/2021) |
- Bãi bỏ miễn thuế VAT đối với hàng nhập khẩu có giá trị dưới 22 EUR. - Vận hành hệ thống Cơ quan một cửa VAT (OSS) và Cơ quan một cửa nhập khẩu (IOSS) cho gói hàng dưới 150 EUR. - Nền tảng TMĐT chịu trách nhiệm pháp lý về thuế VAT chưa thanh toán của người bán (áp dụng tại Đức, Anh). |
| Trung Quốc |
Luật Thương mại điện tử năm 2018 (hiệu lực 01/01/2019); Thông tư Cai Guan Shui [2016] số 18 |
- Điều 10 yêu cầu đăng ký thành viên thị trường; Điều 11 quy định nghĩa vụ nộp thuế của nhà kinh doanh TMĐT. - Phân loại hai sắc thuế: Thuế bưu kiện (thuế bưu chính mức 15%, 25%, 50% từ 01/11/2018) và Thuế tổng hợp cho TMĐT xuyên biên giới (thuế hải quan CD, thuế tiêu thụ CT, thuế GTGT nhập khẩu). - Kết nối dữ liệu thời gian thực giữa nền tảng TMĐT (Tmall Global, JD Worldwide...) với Hải quan Trung Quốc. |
| Hàn Quốc |
Đạo luật Thuế GTGT; quy định hiệu lực từ 01/7/2022 và 01/7/2023 |
- Áp thuế GTGT 10% đối với nhà cung cấp dịch vụ số nước ngoài từ ngày 01/7/2023. - Nhà cung cấp nước ngoài phải lưu trữ dữ liệu giao dịch trong 5 năm (từ 01/7/2022). - Thành lập Trung tâm chống trốn thuế công nghệ cao thuộc Cục Thuế vùng Seoul để điều tra, rà soát giao dịch B2C, C2C và đối chiếu tài khoản ngân hàng với hành vi bán lẻ trực tuyến. |
Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và bài học quốc tế, Chương III đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi:
- Định hướng hoàn thiện: Xây dựng khung pháp luật tiệm cận các nguyên tắc của OECD; bảo đảm sự công bằng giữa kinh doanh trực tiếp và kinh doanh trực tuyến; hiện đại hóa công tác quản lý trên nền tảng số; thúc đẩy sự phối hợp liên ngành.
- Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Nghiên cứu sửa đổi, điều chỉnh mức ngưỡng doanh thu chịu thuế GTGT và TNCN 100 triệu đồng/năm cho phù hợp với biến động kinh tế thực tế, tránh bỏ sót đối tượng kinh doanh quy mô nhỏ nhưng có số lượng giao dịch lớn.
- Hoàn thiện chế định pháp lý ràng buộc trách nhiệm bắt buộc của các sàn TMĐT trong việc khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho người bán hàng trên sàn.
- Bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính và chế tài đối với hành vi che giấu doanh thu, mượn tài khoản hoặc phân tán dòng tiền qua các ví điện tử, tài khoản mạng xã hội.
- Hoàn thiện quy định về định danh người nộp thuế thông qua việc đồng bộ hóa mã số thuế với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Căn cước công dân/Định danh điện tử).
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:
- Nâng cấp và mở rộng năng lực xử lý dữ liệu lớn của Cổng thông tin TMĐT và Cổng thông tin dành cho NCCNN.
- Tăng cường phối hợp chia sẻ dữ liệu liên ngành giữa Cơ quan Thuế với Hải quan, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an và Bộ Công Thương để kiểm soát dòng tiền và dòng hàng hóa.
- Thành lập các đơn vị chuyên trách chống trốn thuế công nghệ cao (học hỏi mô hình của Cục Thuế vùng Seoul - Hàn Quốc) với đội ngũ cán bộ vừa am hiểu pháp luật thuế vừa có trình độ chuyên môn sâu về công nghệ thông tin.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc trao đổi thông tin người nộp thuế xuyên biên giới theo các hiệp định đa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp toàn diện hệ thống lý luận và thực tiễn pháp lý về quản lý thuế TMĐT tại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2023. Các kết quả cụ thể bao gồm:
- Phân tích chi tiết số liệu triển khai thực tế của ngành thuế Việt Nam: vận hành Cổng NCCNN thu hút 36 tập đoàn công nghệ lớn tham gia; vận hành Cổng thông tin TMĐT thu thập dữ liệu từ 334 sàn với quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng giao dịch mỗi quý.
- Làm rõ các bất cập trong quy định hiện hành, đặc biệt là ngưỡng doanh thu 100 triệu đồng/năm, tính phức tạp trong kiểm soát giao dịch qua mạng xã hội, và lỗ hổng trong việc truy thu đối với các tổ chức nước ngoài chưa có pháp nhân tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và giải pháp tổ chức thực hiện bám sát thực tiễn Việt Nam và tương thích với thông lệ quốc tế (OECD, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc).
So với các công trình nghiên cứu trước đây (như luận án năm 2019 của TS. Phạm Nữ Mai Anh và luận văn năm 2021 của ThS. Đặng Vân Anh chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học kinh tế, quản trị hành chính; hay đề tài cấp Bộ năm 2016 của TS. Nguyễn Quang Tiến tập trung vào chính sách vĩ mô), khóa luận này đi sâu phân tích trực tiếp dưới góc độ luật học thực định, tập trung vào kỹ thuật lập pháp, chế định trách nhiệm pháp lý và các quy phạm điều chỉnh thủ tục thuế đối với từng chủ thể trong nền kinh tế số.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận nằm ở phạm vi số liệu thống kê thực tế chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011–2022 (trọng tâm 2016–2020) và các quý đầu năm 2023. Do tốc độ biến đổi nhanh chóng của các hình thức kinh doanh mới (như phát trực tiếp - livestream bán hàng, tiếp thị liên kết xuyên biên giới), khóa luận chưa thể bao quát toàn bộ các phát sinh thương mại phức tạp vừa xuất hiện trên thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá hiệu quả thi hành của Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử khi tích hợp toàn diện Căn cước công dân vào mã số thuế cá nhân, cũng như kiểm nghiệm tính khả thi của mô hình bộ phận chống trốn thuế công nghệ cao trong giai đoạn 5–10 năm tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Luật học, Luật Kinh tế, Quản lý Thuế, Tài chính công và Thương mại điện tử.
- Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế) trong quá trình nghiên cứu, rà soát và sửa đổi Luật Quản lý thuế, Luật Thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Nội dung đáng tham khảo nhất là bức tranh tổng hợp quy định pháp luật điều chỉnh trách nhiệm sàn TMĐT, nhà cung cấp nước ngoài tại Việt Nam và bảng phân tích kinh nghiệm quản trị thuế số hóa của EU, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Các nhà cung cấp dịch vụ số nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ thuế như thế nào qua Cổng thông tin điện tử?
Từ khi Tổng cục Thuế vận hành Cổng thông tin điện tử dành cho NCCNN (ngày 21/3/2022) theo Thông tư 80/2021/TT-BTC, đã có 36 nhà cung cấp nước ngoài đăng ký, kê khai và nộp thuế trực tuyến. Trong đó, 6 tập đoàn công nghệ lớn (Meta, Google, Microsoft, TikTok, Netflix, Apple) chiếm 90% thị phần dịch vụ TMĐT xuyên biên giới tại Việt Nam đã thực hiện nộp thuế, tiêu biểu Meta nộp 16,8 triệu EUR và TikTok nộp 81,7 tỷ VNĐ.
2. Quy định ngưỡng doanh thu tính thuế đối với hộ và cá nhân kinh doanh TMĐT tại Việt Nam có điểm gì bất cập theo phân tích của tác giả?
Theo Điều 4 Thông tư 40/2021/TT-BTC, hộ và cá nhân kinh doanh có doanh thu trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế GTGT và TNCN. Bất cập phát sinh khi nhiều cá nhân kinh doanh trên mạng xã hội cố tình chia nhỏ doanh thu thành nhiều tài khoản khác nhau hoặc che giấu doanh thu, gây khó khăn lớn cho cơ quan thuế trong việc xác định chính xác tổng doanh thu thực tế để quản lý và truy thu.
3. Cơ quan thuế Việt Nam thu thập dữ liệu từ các sàn TMĐT thông qua cơ chế nào và kết quả ghi nhận ra sao?
Căn cứ Nghị định 91/2022/NĐ-CP, các sàn giao dịch TMĐT có trách nhiệm cung cấp thông tin định kỳ hàng quý qua Cổng Thông tin TMĐT của Tổng cục Thuế (vận hành từ ngày 15/12/2022). Kết quả đã có 334 sàn gửi dữ liệu; ghi nhận Quý IV/2022 có 159.218 cá nhân và 31.882 tổ chức kinh doanh với 507 triệu lượt giao dịch (giá trị 15.272 tỷ đồng); Quý I/2023 ghi nhận 64.327 cá nhân và 22.840 tổ chức với 9 tỷ lượt giao dịch (giá trị 11.478 tỷ đồng).
4. Liên minh Châu Âu (EU) đã áp dụng biện pháp gì từ ngày 01/7/2021 để quản lý thuế GTGT đối với hàng hóa TMĐT nhập khẩu?
Từ ngày 01/7/2021, EU đã chính thức xóa bỏ quy định miễn thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị không vượt quá 22 EUR, đồng thời triển khai hệ thống Cơ quan một cửa VAT (OSS) và Cơ quan một cửa nhập khẩu (IOSS) cho hàng hóa dưới 150 EUR nhằm bảo đảm công bằng với hàng hóa nội khối và chống thất thu thuế.
5. Mô hình chống trốn thuế TMĐT của Hàn Quốc có cơ chế tổ chức đặc thù nào được khóa luận đề xuất Việt Nam tham khảo?
Cơ quan thuế Hàn Quốc đã thành lập Trung tâm chống trốn thuế công nghệ cao thuộc Cục Thuế vùng Seoul, tập hợp đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao về nghiệp vụ thuế kết hợp chuyên gia công nghệ thông tin. Trung tâm này chuyên trách điều tra các giao dịch B2C, C2C phức tạp, kiểm tra tài khoản và đối chiếu đặt hàng ngẫu nhiên để phát hiện hành vi gian lận doanh thu trực tuyến.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam trong mối tương quan với kinh nghiệm quốc tế tại EU, Trung Quốc và Hàn Quốc. Trên cơ sở phân tích các dữ liệu thực tế từ Tổng cục Thuế và thực tiễn thi hành các văn bản pháp luật như Luật Quản lý thuế 2019, Thông tư 80/2021/TT-BTC, Thông tư 40/2021/TT-BTC, công trình đã chỉ rõ những khoảng trống pháp lý và rào cản kỹ thuật hiện hữu. Các nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi được đề xuất có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần hỗ trợ công tác quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế số tiếp tục phát triển mạnh mẽ.