Chương 1: Tổng quan về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử Chương 2: Kinh nghiệm của một số nước về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử Chương 3: Thực trạng quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tại Việt Nam Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan về Thƣơng mại điện tử (TMĐT) 1.1 Khái niệm TMĐT Cùng với sự ra đời và phát triển của Internet, thương mại điện tử (TMĐT) đã xuất hiện, có sự phát triển mạnh mẽ và được coi là xu hướng của thế giới trong thế kỷ 21. Hiện nay, khái niệm TMĐT được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa ra song chưa có một khái niệm thống nhất. Nhìn một cách tổng quát, các khái niệm TMĐT được chia thành hai nhóm tuỳ thuộc vào các quan điểm như sau: Theo nghĩa hẹp, TMĐT được hiểu là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và Internet (Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Thoan, 2012, tr.
Diễn đàn đối thoại xuyên Đại Tây Dương năm 1997 định nghĩa TMĐT theo cách hiểu này: “TMĐT là các giao dịch thương mại về hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử”. Theo nghĩa rộng, TMĐT là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến các tổ chức hay cá nhân được tiến hành bằng cách sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin số hóa. Theo Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL): "Thuật ngữ “thương mại” cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ" (UN, 1999).Theo khái 7 niệm này, phạm vi hoạt động của TMĐT rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử.
Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh". TMĐT trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó bao gồm: hoạt động mua bán hàng hóa; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo) Như vậy, mặc dù trên thế giới có những khái niệm khác nhau về TMĐT, nhưng về cơ bản đều thống nhất về quan điểm: TMĐT là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại; nói chính xác hơn, TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử mà nhìn chung không cần phải in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào trong toàn bộ quá trình giao dịch. Các phương tiện điện tử được sử dụng chủ yếu trong TMĐT bao gồm: điện thoại, máy điện báo (telex), máy fax, truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử… 1.2 Sự hình thành và phát triển TMĐT Tiền thân ban đầu của TMĐT là 2 công nghệ ra đời vào thập nhiên 70, bao gồm: Chuyển tiền điện tử (Electronic Fund Transfer - EFT) và Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI), cho phép các doanh nghiệp trao đổi văn bản, dữ liệu bao gồm: hợp đồng điện tử, đơn đặt hàng, hóa đơn điện tử….
Đầu những năm 1960, Công ty Du Pont – một công ty hóa chất của Mỹ đã phát triển một chuẩn dành các thông điệp điện tử để gửi thông tin về hàng hóa tới hãng vận chuyển Chemical Leahman Tank Lines. Nǎm 1965, hãng vận chuyển 8 Steamship Line (liên doanh giữa một hãng của Mỹ và một hãng của Hà Lan) bắt đầu gửi cho hãng vận chuyển Atlantic những bản kê khai chuyển hàng dưới dạng những thông điệp telex mà sau đó có thể in ra giấy hoặc nhập vào máy tính. Đến nǎm 1968, rất nhiều các công ty vận chuyển đường sắt, hàng không, đường bộ và vận chuyển đường biển đã sử dụng những chuẩn kê khai điện tử liên ngành do Uỷ ban Phối hợp Truyền dữ liệu (Transportation Data Coordinating Committee - TDCC) của Mỹ khởi xướng và vào nǎm 1975, TDCC đã xuất bản tài liệu đặc tả kỹ thuật thuật trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) đầu tiên của mình. Ngành lương thực và thực phẩm bắt đầu một dự án thử nghiệm về trao đổi dữ liệu điện tử vào nǎm 1977.
Đến đầu những nǎm 1980, Tập đoàn ô tô Ford Motor và Tập đoàn ô tô General Motor yêu cầu những nhà cung cấp của họ sử dụng EDI. Những nhà bán lẻ lớn như Sears, Roebuck và Co. và Kmart Corp. cũng bắt đầu sử dụng EDI.
Năm 1991, nǎm chính phủ Mỹ bãi bỏ hạn chế thương mại sử dụng Internet, và sau 1 nǎm kể từ khi Tim Berners-Lee đã tạo ra trình duyệt web đầu tiên WorldWideWeb (www. Hoạt động thương mại điện tử chính thức bùng nổ. Vào cuối năm 2000, nhiều công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các dịch vụ thông qua World Wide Web, tiêu biểu có thể kể đến như Amazon.com tiến hành bán sách và âm nhạc trực tuyến từ 1995, American Express giới thiệu thẻ thông minh tích hợp thanh toán trên mạng và ví trực tuyến. Thế giới từ đó bắt đầu có mối liên hệ từ "e-commerce" (thương mại điện tử) với quyền trao đổi các loại hàng hóa khác nhau thông qua Internet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử (VITIC, 2013) Thương mại điện tử kể từ sau khi hình thành website đã phát triển qua 3 giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1: Thương mại thông tin (1995 – 2001) Ở giai đoạn này, thông tin về hàng hóa, dịch vụ và bản thân doanh nghiệp đã được đưa lên web.
Tuy nhiên những thông tin này chỉ mang tính giới thiệu và tham khảo. Việc trao đổi thông tin, đàm phán các điều khoản hợp đồng giữa doanh 9 nghiệp với khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp) chủ yếu qua email, diễn đàn…Thông tin trong giai đoạn này phần lớn chỉ mang tính một chiều, thông tin hai chiều giữa người bán và mua còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Trong giai đoạn này người tiêu dùng có thể tiến hành mua hàng trực tuyến, nhưng việc thanh toán được thực hiện theo phương thức truyền thống. - Giai đoạn 2: Thương mại giao dịch (2001 - 2007) Nhờ có sự ra đời của thanh toán điện tử mà thương mại điện tử thông tin đã tiến thêm một giai đoạn nữa của quá trình phát triển thương mại điện tử đó là thương mại điện tử giao dịch.
Thanh toán điện tử ra đời đã hoàn thiện hoạt động mua bán hàng trực tuyến. Trong giai đoạn này nhiều sản phẩm mới đã được ra đời như sách điện tử và nhiều sản phẩm số hóa (nhạc, phim, tài liệu…). Trong giai đoạn này các doanh nghiêp đã xây dựng mạng nội bộ nhằm chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp, cũng như ứng dụng các phần mềm quản lý nhân sự, kế toán, bán hàng, sản xuất, logistics và tiến hành ký kết hợp đồng điện tử. - Giai đoạn 3: Thương mại cộng tác (2007-2015) Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của thương mại điện tử hiện nay.
Giai đoạn này đòi hỏi tính cộng tác, phối hơp cao giữa nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng, cơ quan quản lý nhà nước. Giai đoạn này đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ chu trình từ đầu vào của quá trình sản xuất cho tới việc phân phối hàng hóa. Giai đoạn này doanh nghiệp đã triển khai các hệ thống phần mềm Quản lý khách hàng (Customer Relationship Management - CRM), Quản lý nhà cung cấp (Supply Chain Management - SCM), Quản trị nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP) (Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Thoan, 2012, tr.3 Đặc điểm của TMĐT - Sự phát triển của TMĐT gắn liền với sự phát triển công nghệ thông tin: bản chất của TMĐT là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của doanh nghiệp, do đó, sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ tạo nền tảng thúc đẩy TMĐT phát triển; ngược lại, sự phát triển của TMĐT cũng có tác động ngược lại, tạo động lực, gợi mở phát triển công nghệ thông tin như các phần mềm chuyên dụng cho hoạt động mua bán điện tử, thanh toán điện tử và đẩy mạnh sản xuất các thiết bị điện tử như máy tính, thiết bị viễn thông, thiết bị mạng v.v… - Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không cần biết nhau từ trước: trong hoạt động thương mại truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến ký kết hợp đồng. Các bên giao dịch chuyển báo giá, hóa đơn, tiền…bằng hình thức trực tiếp hoặc thông qua bưu điện.
Việc sử dụng các phương tiện điện tử, viễn thông như email, fax, telex… trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch.