Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Sử học của nghiên cứu sinh Dương Thị Huyền có tiêu đề “Thương điếm châu Âu ở một số nước Đông Bắc Á thế kỷ XVI- XVII”, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Anh Tuấn và PGS. Nguyễn Đức Nhuệ. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới, mã số 9229011.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng thế kỷ XVI-XVII là thời kỳ bản lề của lịch sử thế giới khi chế độ phong kiến Tây Âu suy thoái, chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn tích lũy nguyên thủy và chủ nghĩa trọng thương thôi thúc các quốc gia châu Âu tìm kiếm thị trường, nguyên liệu và kim loại quý tại phương Đông. Trong quá trình này, các cường quốc hàng hải (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh) đã vận dụng các phái đoàn truyền giáo, các công ty cổ phần thương mại có đặc quyền (như VOC, EIC) và đặc biệt là hệ thống thương điếm (entrepôt, factory, comptoir) để làm cơ sở thu gom, lưu trữ hàng hóa và thiết lập bang giao. Mặc dù giới sử học quốc tế đã đạt nhiều thành tựu khi khảo cứu về thương mại thế giới giai đoạn này, các công trình học thuật tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở các nghiên cứu đơn lẻ về từng công ty thương mại, từng hải cảng riêng biệt, chưa có một công trình nào phục dựng có hệ thống quá trình hình thành, cơ chế hoạt động, đặc điểm chung của mạng lưới thương điếm châu Âu tại Đông Bắc Á và đặt nó trong mối liên hệ trực tiếp với Đại Việt.
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:
- Làm rõ quá trình ra đời, phát triển và hoạt động của các thương điếm châu Âu ở khu vực Đông Bắc Á (tập trung vào Trung Quốc và Nhật Bản).
- Làm rõ những chuyển biến kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa... khu vực thông qua sự tồn tại và hoạt động của các thương điếm châu Âu.
- Làm rõ những mối liên hệ giữa hệ thống thương điếm châu Âu ở một số nước Đông Bắc Á với Đại Việt.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua năm nội dung:
- Phục dựng lại bối cảnh lịch sử Đông Bắc Á ở thế kỷ XVI-XVII, nền tảng cho quá trình thâm nhập của châu Âu vào khu vực thông qua vai trò của các thương điếm.
- Phân tích sự ra đời và phát triển của hệ thống thương điếm châu Âu ở Ma Cao (Trung Quốc), Nagasaki, Hirado, Deshima (Nhật Bản), Formosa (Đài Loan).
- Phân tích những đặc điểm chung của hệ thống thương điếm châu Âu ở một số nước Đông Bắc Á.
- Phân tích các nhân tố có ảnh hưởng, mức độ tác động và khả năng chi phối của các thương điếm đối với hoạt động thương mại của người châu Âu ở Đông Bắc Á cũng như đối với tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội bản địa.
- Phân tích vị trí của Đại Việt trong mối liên hệ hệ thống thương điếm châu Âu ở Đông Bắc Á.
Đối tượng nghiên cứu là quá trình thiết lập, cơ chế hoạt động và vai trò của các thương điếm châu Âu tại Đông Bắc Á, được đặt trong mối quan hệ đa chiều với các hoạt động truyền giáo, thương mại, quân sự và ngoại giao.
Về phạm vi không gian, luận án tập trung khảo cứu các thương điếm ở Trung Quốc (Ma Cao), Nhật Bản (Hirado, Nagasaki, Deshima) và Đài Loan (Formosa/Zeelandia). Bán đảo Triều Tiên không nằm trong phạm vi khảo sát do hoạt động của người phương Tây tại đây thời kỳ này không rõ nét và hạn chế về nguồn tư liệu. Luận án mở rộng không gian nghiên cứu sang Đại Việt (Đàng Ngoài và Đàng Trong) ở Chương 5 để làm rõ tính kết nối liên vùng. Về phạm vi thời gian, công trình tập trung vào thế kỷ XVI và XVII; đồng thời mở rộng khảo sát một số chuyển biến kéo dài sang thế kỷ XVIII khi phân tích hệ quả của phong trào Hà Lan học và sự cô lập của các thương điếm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và điểm duyệt hệ thống tư liệu theo ba nhóm nguồn chính:
Nhóm nghiên cứu quốc tế:
- Về thương mại Trung Quốc và Bồ Đào Nha: Luận án kế thừa công trình Sino-Portuguese Trade from 1514-1644 (1933) của Tien T’se Chang về quan hệ thương mại Bồ - Minh và sự ra đời của thương điếm Ma Cao; công trình Foundations of the Portuguese Empire, 1415-1580 (1977) của Bailey W. Diffie và George D. Winius khảo cứu về việc xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha tại châu Á; các chuyên khảo của Charles R. Boxer gồm Fidalgos in the Far East, 1550-1770 (1988) và Portuguese Merchants and Missionaries in Feudal Japan 1543–1640 (1990) phân tích mối liên kết thương mại Ma Cao - Nagasaki; nghiên cứu của James C. Boyajian (1993) Portuguese Trade in Asia under the Habsburgs, 1580-1640; dự án dịch tài liệu lưu trữ Ma Cao của George Souza cùng hai chuyên luận The Survival of Empire và The South China Sea 1630-1754.
- Về hoạt động hàng hải của Hà Lan và Anh: Công trình Dutch-Asiatic Shipping in the 17th and 18th Centuries (1979) của J. R. Bruijn, F. S. Gaastra và I. Schöffer (kèm đóng góp của J. van Eyck van Heslinga) khai thác kho lưu trữ VOC; công trình The Dutch East India Company, Expansion and Decline (2003) của Femme Gaastra; nghiên cứu của Derek Massarella (1990) A World Elsewhere: Europe’s Encounter with Japan in the Sixteenth and Seventeenth Centuries; bộ tư liệu hai tập The English Factory in Japan, 1613-1623 (1991) của Anthony Farrington về thương điếm Hirado của EIC.
- Về Đài Loan và Nhật Bản: Công trình How Taiwan Became Chinese (2005) của Tonio Andrade và The Colonial 'Civilizing Process' in Dutch Formosa 1624–1662 (2008) của Chiu Hsin-hui; khảo cứu Formosa under the Dutch của William Campbell; luận án của Linnea Gentry Sheehan về vai trò của vàng và bạc Nhật Bản (1550-1737); các công trình của Grant K. Goodman (The Dutch Impact on Japan 1640-1853 và Japan and the Dutch 1600-1853) về phong trào Rangaku; các nghiên cứu của Robert LeRoy Innes (1975) và Eiichi Kato (1981).
Nhóm tư liệu nước ngoài dịch sang tiếng Việt:
- Bao gồm các ghi chép du ký, hồi ký của giáo sĩ và thương nhân như Cristophoro Borri, Gaspas Louis, Baldinotti Giuliano, Cardim A. Francisco, Maracci Gioan, John Barrow, Pierre-Yves Manguin; tác phẩm Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 của William Dampier; các công trình của Charles Maybon gồm Những người châu Âu ở nước An Nam và Thương điếm Anh ở Đông Kinh thế kỷ XVII (1672–1679); bộ ba tập Lịch sử Nhật Bản (A History of Japan) của George Sansom; chuyên luận của Michel Beaud (2002) về lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000.
Nhóm công trình trong nước:
- Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Kim về chính sách đóng cửa thời Tokugawa (2000), quan hệ Nhật Bản - châu Á (2003), thương mại thuyền mành và mạng lưới hải thương Đông Á (2007, 2009, 2010); công trình Ma Cao trở về với đất mẹ của Nguyễn Việt Hồng (2000); luận văn của Phạm Thị Hoàng Điệp (2005) về Hà Lan học; luận án của Nguyễn Thị Vĩnh Linh (2014) về thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc; luận án của Nguyễn Thu Hằng (2016) về ảnh hưởng phương Tây ở Nhật Bản; các công trình của Hoàng Anh Tuấn gồm chuyên khảo xuất bản tại Hà Lan Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, 1633-1700 (2006) và Thương mại thế giới và hội nhập của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII (2016); cùng các bài báo khoa học của Nguyễn Thừa Hỷ (1998), Trần Thị Thanh Vân (2009), Đặng Văn Chương (2009, 2012), Nguyễn Văn Hoàn (2011), Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2013).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn công trình đi trước tiếp cận đối tượng dưới góc độ lịch sử từng quốc gia riêng biệt hoặc khảo sát hoạt động của một công ty thương mại đơn lẻ. Luận án của Dương Thị Huyền đặt toàn bộ các thương điếm tại Ma Cao, Hirado, Deshima, Zeelandia trong một hệ thống mạng lưới liên hoàn, phân tích cơ chế tương tác giữa thương nhân châu Âu với chính quyền bản địa (triều Minh - Thanh và Mạc phủ Tokugawa), đồng thời làm rõ vị trí bản lề của thị trường Đại Việt trong chuỗi trao đổi tơ lụa lấy bạc kim loại tại vùng Viễn Đông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên nguyên lý của sử học mác-xít khi phân tích hình thái kinh tế - xã hội phương Đông, quy luật tích lũy nguyên thủy tư bản, sự hình thành chủ nghĩa tư bản thương nghiệp và chính sách thuộc địa hóa của các nước phương Tây. Đồng thời, tác giả vận dụng lý thuyết về chủ nghĩa trọng thương (mercantilism) để lý giải mục tiêu tối đa hóa dự trữ kim loại quý và cán cân thanh toán của các vương triều châu Âu; lý thuyết về mô hình công ty thương mại cổ phần có đặc quyền nhà nước (Chartered Companies như VOC và EIC); và khung phân tích mạng lưới thương mại Nội Á (Intra-Asian trade network).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các phương pháp định tính chuyên ngành lịch sử kết hợp liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Phục dựng diễn trình thâm nhập, thiết lập và suy tàn của các thương điếm theo trình tự thời gian cụ thể qua hai thế kỷ XVI và XVII.
- Phương pháp logic: Khái quát bản chất, quy luật vận động nội tại và tính hệ thống của các thương điếm trong chiến lược bành trướng kinh tế của phương Tây tại Đông Á.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu đồng đại và lịch đại giữa các mô hình thương điếm (mô hình tô nhượng - tự quản của Bồ Đào Nha tại Ma Cao đối sánh với mô hình biệt lập, bị giám sát chặt chẽ của Hà Lan tại Deshima; mô hình thuộc địa hóa tại Zeelandia); so sánh chính sách ngoại thương của triều đình phong kiến Trung Quốc (Hải cấm) với chính sách của Mạc phủ Tokugawa (Shuinsen chuyển sang Sakoku).
- Phương pháp thống kê và phân tích văn bản: Thu thập, phân loại, đối chiếu các nguồn sử liệu thành văn, số liệu tàu thuyền, lượng vốn đầu tư, biểu giá hàng hóa và thuế suất.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức của khu vực học, kinh tế học lịch sử, tôn giáo học và văn hóa học nhằm làm rõ tác động qua lại giữa thương mại và hoạt động truyền bá đạo Thiên Chúa.
Nguồn tư liệu của luận án dựa trên hệ thống hồ sơ lưu trữ của Công ty Đông Ấn Hà Lan (kho tư liệu VOC tại Lưu trữ Quốc gia Hà Lan ở La Haye), tài liệu lưu trữ của Bồ Đào Nha tại Ma Cao và Goa, văn bản của Công ty Đông Ấn Anh (EIC), các văn bản pháp quy của Mạc phủ Tokugawa (chế độ Shuinsen, các sắc lệnh Sakoku, quy định Fûsetsugaki), ghi chép của các nhân chứng lịch sử và hệ thống thư tịch cổ Á - Âu.
Dưới đây là bảng tổng hợp các thuật ngữ, chức danh và đơn vị đo lường, tiền tệ xuất hiện trong văn bản luận án:
| Nhóm danh mục |
Thuật ngữ / Khái niệm |
Ngôn ngữ gốc |
Ý nghĩa và định mức theo văn bản |
| Thể chế & Chức danh |
Bakufu |
Tiếng Nhật (N) |
Mạc phủ, cơ quan đầu não quân sự do Tướng quân (Shogun) đứng đầu. |
|
Bugyōsho |
Tiếng Nhật (N) |
Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát hoạt động thương mại cảng Nagasaki. |
|
Capitao-mor |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Chức vụ cao nhất quản lý các chuyến tàu từ Ma Cao đến Nhật Bản; kiêm quản lý tài sản người chết và vắng mặt đến 1598. |
|
Capitao-general |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Tổng trấn Hoàng gia và chỉ huy quân sự thành phố Ma Cao từ năm 1630. |
|
Casado |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Người Bồ Đào Nha có gia đình định cư lâu dài tại châu Á. |
|
Opperhoofd |
Tiếng Hà Lan (H) |
Giám đốc / Trưởng thương điếm của Hà Lan tại Nhật Bản. |
|
Ouvidor |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Thẩm phán do Tổng trấn Estado da India bổ nhiệm đến Ma Cao nhiệm kỳ 3 năm. |
|
Senado da Camara |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Hội đồng thị chính / Hội đồng thương điếm của Bồ Đào Nha tại Ma Cao. |
| Quy định & Chính sách |
Foro da chao |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Tiền thuê đất người Bồ Đào Nha nộp cho chính quyền Trung Quốc (500 lạng bạc/năm). |
|
Pancado |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Hệ thống áp giá tơ lụa nhập khẩu vào Nagasaki do đại diện 5 thành phố Nhật định giá. |
|
Fûsetsugaki |
Tiếng Nhật (N) |
Bản tường trình tình hình thế giới ("Phong huyết thư") thương điếm Deshima nộp cho Shogun hàng năm từ 1652. |
|
Sankin kotai |
Tiếng Nhật (N) |
Chế độ luân phiên chầu biện của các Daimyo tại Edo, ban hành từ năm 1615. |
| Tàu thuyền |
Carrack |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Tàu buồm lớn 3-4 cánh buồm vuông dùng trong hải thương Á - Âu thế kỷ XVI-XVII. |
|
Galleon |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Thuyền buồm lớn trọng tải trên 1.000 tấn trang bị đại bác. |
|
Galiota / Pataxo / Naveta |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Các loại tàu buồm vận tải cỡ trung bình, tải trọng từ 300 đến 400 tấn. |
|
Go-shuin-sen |
Tiếng Nhật (N) |
Thuyền Châu ấn trạng được Mạc phủ cấp giấy phép hoạt động hàng hải. |
| Đơn vị đo & Tiền tệ |
Catty / Picol |
Đo lường Viễn Đông |
1 catty = 16 taels = 600g; 1 picol = 100 catty = 60kg. |
|
Koku |
Tiếng Nhật (N) |
Đơn vị đo thể tích/thóc gạo, thời cận thế 1 koku tương đương 180,4 lít. |
|
Tael |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Lạng bạc, 1 tael tại Quảng Châu = 37,5g (= 1 cruzado = 1,33 xerafines). |
|
Cruzado |
Tiếng Bồ Đào Nha (B) |
Tiền vàng có khắc hình chữ thập, trị giá khoảng 400 reis. |
|
Guilder / Stuiver |
Tiếng Hà Lan (H) |
Tiền tệ Hà Lan (1 guilder = 100 cents; 1 pagoda = 120 stuivers). |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1 tiến hành rà soát toàn diện các tài liệu ngoại văn và quốc ngữ liên quan đến hoạt động của thương điếm châu Âu tại Đông Á. Tác giả phân tích các nguồn tư liệu gốc của Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh; phân loại hệ thống công trình của các học giả chuyên sâu như Tien T'se Chang, Charles Boxer, Femme Gaastra, Chiu Hsin-hui, Nguyễn Văn Kim, Hoàng Anh Tuấn. Đánh giá chung cho thấy, các công trình trước đây đã cung cấp dữ liệu cơ bản về những chuyến hải hành, số lượng tàu thuyền và quá trình giao thương đơn lẻ. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trống lớn về một công trình chuyên khảo tổng hợp phân tích bản chất thể chế của hệ thống thương điếm, tính chất liên kết mạng lưới vùng Đông Bắc Á và mối quan hệ hữu cơ với thương mại Đại Việt. Từ đó, chương 1 xác định rõ các nhiệm vụ khoa học mà luận án cần đi sâu giải quyết.
Chương 2: ĐÔNG BẮC Á THẾ KỶ XVI- XVII VÀ SỰ THÂM NHẬP CỦA NGƯỜI CHÂU ÂU
Chương 2 tái hiện bối cảnh lịch sử Đông Bắc Á và Tây Âu trong hai thế kỷ XVI-XVII:
- Về phía Đông Bắc Á: Trung Quốc dưới thời Minh - Thanh có nền kinh tế thủ công nghiệp phát triển, nhu cầu nhập khẩu bạc rất lớn để làm phương tiện lưu thông tiền tệ, trong khi áp dụng chính sách Hải cấm đối với thương mại tư nhân. Nhật Bản thời kỳ cuối Chiến quốc bước sang thời kỳ Mạc phủ Tokugawa thống nhất đất nước, có nguồn tài nguyên bạc và đồng dồi dào, ban đầu thực hiện chính sách ngoại thương cởi mở qua việc cấp phép thuyền Châu ấn (Shuinsen). Đảo Đài Loan trong thế kỷ XVI vẫn là vùng đất mở, chưa thuộc quyền kiểm soát hành chính trực tiếp của vương triều nào.
- Về phía châu Âu: Sự tan rã của kinh tế lãnh địa phong kiến và sự phát triển của công trường thủ công thúc đẩy giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản. Học thuyết trọng thương kích thích nhu cầu tiếp cận trực tiếp hương liệu Đông Nam Á và tơ lụa, kim loại quý Đông Bắc Á. Các tổ chức thương mại đặc quyền lần lượt ra đời: Công ty Đông Ấn Anh (EIC) thành lập ngày 31 tháng 12 năm 1600; Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) thành lập ngày 20 tháng 3 năm 1602 gồm 6 phòng với tổng vốn điều lệ 6.424.588 guilder. Sự cạnh tranh giữa Bồ Đào Nha (thông qua thể chế Estado da India), Hà Lan và Anh đã chuyển dịch mạnh mẽ từ Ấn Độ Dương sang vùng biển Đông Á.
Chương 3: THƯƠNG ĐIẾM CHÂU ÂU Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG BẮC Á CUỐI THẾ KỶ XVI - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XVII
Chương 3 đi sâu khảo cứu quá trình thành lập và phương thức vận hành của các thương điếm giai đoạn đầu:
- Thương điếm Bồ Đào Nha ở Ma Cao: Bắt đầu từ chuyến cập bến của Fernão de Andrade (1517) và Simão de Andrade (1518), trải qua xung đột năm 1522 của Coutinho. Đến năm 1553, thương nhân Bồ Đào Nha tiếp cận Ma Cao; năm 1554 Leonel de Sousa ký hòa ước với chức dịch Quảng Đông cho lập chợ tạm; năm 1557 chính thức được định cư sau khi hỗ trợ trấn áp cướp biển. Người Bồ Đào Nha trả tiền thuê đất (foro do chão) 500 lạng bạc mỗi năm cho chính quyền Trung Quốc. Bộ máy tại đây mang tính tự quản của cộng đồng thị dân (casado), do Hội đồng thị chính (Senado da Câmara) và Thẩm phán (Ouvidor) điều hành, dưới quyền của Chỉ huy hạm đội (Capitão-mor).
- Thương điếm Bồ Đào Nha ở Nagasaki và mậu dịch Ma Cao - Nagasaki: Tận dụng quan hệ căng thẳng giữa Minh và Nhật do nạn Oa khấu (Wakō), Bồ Đào Nha đóng vai trò trung gian vận chuyển tơ lụa Trung Quốc sang Nhật Bản đổi lấy bạc nén. Hoạt động bán tơ tại Nagasaki bị Mạc phủ khống chế giá qua hệ thống Pancado thiết lập từ năm 1604 bởi liên minh thương nhân 5 thành phố.
- Thương điếm Hà Lan tại Hirado (1609-1640): Sau khi được Mạc phủ cấp giấy phép thông thương năm 1609, VOC lập thương điếm tại Hirado để cạnh tranh trực tiếp với Bồ Đào Nha và người Anh (thương điếm EIC tồn tại ngắn ngủi từ 1613 đến 1623).
- Thương điếm Hà Lan ở Đài Loan: Năm 1624, sau khi bị đẩy lui khỏi Bành Hồ, VOC chiếm đóng khu vực Tây Nam đảo Đài Loan, xây dựng pháo đài và thương điếm Zeelandia. Nơi đây trở thành trạm trung chuyển hàng hóa từ Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á.
Chương 4: THƯƠNG ĐIẾM CHÂU ÂU Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG BẮC Á NỬA SAU THẾ KỶ XVII
Chương 4 khảo sát những biến động chính trị sâu sắc làm thay đổi diện mạo các thương điếm:
- Xu hướng "thuộc địa hóa" của Hà Lan ở Đài Loan: Tại Formosa, VOC không đơn thuần lập kho hàng mà từng bước thiết lập bộ máy hành chính, đánh thuế người Hoa nhập cư, kiểm soát kinh tế khai thác hươu lấy da đanh và truyền bá đạo Tin lành. Quyền lực này chấm dứt vào năm 1662 khi lực lượng Trịnh Thành Công đánh bại Hà Lan.
- Nhật Bản "tỏa quốc" và thương điếm Deshima: Nhằm ngăn chặn sự lan tràn của đạo Thiên Chúa và nguy cơ mất ổn định chính trị, Mạc phủ ban hành các sắc lệnh Sakoku (1633-1639), trục xuất toàn bộ người Bồ Đào Nha (1639). Năm 1641, Mạc phủ cưỡng chế dời thương điếm Hà Lan từ Hirado sang đảo nhân tạo Deshima tại Nagasaki. Tại đây, đại diện Hà Lan (Opperhoofd) chịu sự giám sát ngặt nghèo của quan đốc cảng (Bugyōsho), áp dụng giá Pancado năm 1641 (hủy bỏ 1654, phục hồi 1685), và từ năm 1652 bắt buộc phải đệ trình bản tường trình thế giới định kỳ (Fûsetsugaki).
- Mạng lưới Zeelandia - Deshima: Đóng vai trò hai mắt xích cốt lõi trong chuỗi trao đổi thương mại Nội Á của Hà Lan, gom tơ lụa, da hươu và đường cát để đổi lấy nguồn bạc và đồng nén tại Nhật Bản.
- Nỗ lực của người Anh và sự cô lập của Ma Cao: Công ty Đông Ấn Anh tìm cách khôi phục lại thương mại tại vùng Đông Bắc Á trong nửa sau thế kỷ XVII nhưng thất bại trước ưu thế cạnh tranh của VOC; trong khi Bồ Đào Nha tại Ma Cao rơi vào tình trạng suy thoái và cô lập nghiêm trọng sau khi bị cắt đứt hoàn toàn tuyến hàng hải sinh lợi Ma Cao - Nagasaki từ năm 1639.
Chương 5: HỆ THỐNG THƯƠNG ĐIẾM CHÂU ÂU VÀ XÃ HỘI ĐÔNG BẮC Á THẾ KỶ XVI- XVII
Chương 5 đúc kết các thuộc tính bản chất và hệ quả lịch sử:
- Đặc điểm chung: Các thương điếm châu Âu tại Đông Bắc Á đều nằm ở các hải đảo hoặc bán đảo ven biển (entrepôt); chịu sự kiềm tỏa và kiểm soát chặt chẽ của chính quyền phong kiến tập quyền bản địa (khác với tính chất áp chế quân sự tại châu Mỹ hay Đông Nam Á); vừa là trung tâm mậu dịch vừa là cơ sở cho các hoạt động ngoại giao và truyền giáo.
- Chuyển biến xã hội bản địa: Hoạt động của thương điếm kích thích kinh tế tiền tệ, thúc đẩy phân công lao động tại vùng duyên hải Trung Quốc; thúc đẩy phát triển kỹ thuật đúc súng pháo và đóng tàu. Tại Nhật Bản, sự hiện diện duy nhất của người Hà Lan tại Deshima đã dẫn đến sự ra đời của trào lưu Hà Lan học (Rangaku), đặc biệt sau năm 1720 khi Mạc phủ nới lỏng lệnh cấm nhập khẩu sách khoa học phương Tây, tạo tiền đề tiếp nhận y học, thiên văn, vật lý và kỹ thuật quân sự châu Âu.
- Tác động trở lại châu Âu: Nguồn bạc và vàng từ Nhật Bản, tơ lụa và đồ sứ từ Trung Quốc chuyển về qua mạng lưới thương điếm đã thúc đẩy sự tích lũy của cải, làm thay đổi thị hiếu tiêu dùng, thúc đẩy ngành tài chính ngân hàng tại Amsterdam và Luân Đôn phát triển.
- Đại Việt trong mối liên hệ với các thương điếm Đông Bắc Á: Đại Việt đóng vai trò mắt xích hữu cơ trong chiến lược Nội Á của VOC. Từ các thương điếm ở Đàng Ngoài (Kẻ Chợ, Phố Hiến) và Đàng Trong (Hội An), người Hà Lan gom tơ lụa thô để vận chuyển sang Nhật Bản bán đổi lấy bạc kim loại. Lượng bạc Nhật Bản này lại được dùng để thu mua hương liệu ở Đông Nam Á chuyển về châu Âu. Mối liên hệ này biến Đại Việt thành một bộ phận cấu thành của mạng lưới hải thương Á - Âu thế kỷ XVII.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả nghiên cứu cụ thể được tác giả đúc kết:
- Về mặt khoa học: Tác phẩm đã phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống diễn trình lịch sử hình thành, cơ cấu quản lý và hoạt động mậu dịch của mạng lưới thương điếm Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh tại Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan qua hai thế kỷ XVI và XVII.
- Về mặt lý luận: Luận án phân tích sâu sắc các đặc điểm chung của mô hình thương điếm phương Tây ở Đông Bắc Á, chỉ ra sự khác biệt mang tính bản chất giữa hình thái thương mại bị kiểm soát bởi chính quyền phong kiến tập quyền Á Đông với hình thái thuộc địa hóa xâm chiếm lãnh thổ ở các vùng địa lý khác.
- Về mặt thực tiễn: Khảo cứu đã chứng minh rõ nét các dấu ấn chuyển giao tri thức của văn minh phương Tây vào đời sống văn hóa, khoa học kỹ thuật khu vực (tiêu biểu là hiện tượng Rangaku); đồng thời làm sáng tỏ mối liên hệ hữu cơ, mật thiết giữa hệ thống thương điếm Đông Bắc Á với thị trường Đại Việt thế kỷ XVII.
- Kiến nghị và giải pháp: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Lịch sử thế giới và Lịch sử quan hệ quốc tế; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các cơ quan hoạch định chính sách tham khảo trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và quản lý ngoại thương hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận:
- Do điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu còn khó khăn và hoạt động của thương nhân châu Âu tại bán đảo Triều Tiên trong hai thế kỷ XVI-XVII diễn ra không rõ nét, luận án chưa thể mở rộng phạm vi khảo cứu đến khu vực Triều Tiên.
- Nguồn sử liệu gốc bằng cổ ngữ (tiếng La-tinh, Bồ Đào Nha cổ, Hà Lan cổ) phần lớn được tiếp cận thông qua các ấn phẩm dịch thuật sang tiếng Anh hoặc công bố gián tiếp của các học giả quốc tế, chưa thể khai thác toàn diện tại các kho lưu trữ gốc ở Bồ Đào Nha.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định:
- Mở rộng khảo sát hoạt động thương mại kéo dài sang thế kỷ XVIII của các thương nhân phương Tây tại Đông Bắc Á nhằm đánh giá trọn vẹn tiến trình suy tàn của các thương điếm trước khi nổ ra cuộc Chiến tranh Thuốc phiện.
- Tiếp tục tìm kiếm và dịch thuật các nguồn tư liệu lưu trữ bản địa của Trung Quốc, Nhật Bản và nguồn tài liệu chữ Hán, chữ Nôm của Việt Nam để đối chiếu đa chiều với hệ thống nhật ký thương điếm của phương Tây.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích đối với các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử thế giới, Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử kinh tế và Đông phương học có thể sử dụng công trình như một tài liệu giảng dạy và học tập chi tiết về thời kỳ sơ kỳ cận đại và thương mại biển.
- Nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam: Công trình cung cấp góc nhìn đối sánh để nghiên cứu sâu hơn về các đô thị - thương cảng cổ của Đại Việt như Phố Hiến và Hội An trong tương quan với Ma Cao, Deshima và Zeelandia.
- Cán bộ nghiên cứu chính sách: Cung cấp các bài học lịch sử về quản lý ngoại thương, kiểm soát dòng chảy kim loại quý, giải quyết xung đột văn hóa và tiếp nhận khoa học kỹ thuật trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa cơ cấu tổ chức bộ máy thương điếm Ma Cao và Deshima; chương phân tích cơ chế mậu dịch tam giác tơ - bạc Nội Á; và phần luận giải vị trí của Đại Việt trong mối liên hệ với các công ty Đông Ấn phương Tây.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục đích của người Bồ Đào Nha khi thiết lập thương điếm Ma Cao năm 1557 là gì và cơ chế nộp tiền thuê đất diễn ra như thế nào?
Mục đích cốt lõi của Bồ Đào Nha là tạo lập một căn cứ hải cảng an toàn và trạm trung chuyển để kết nối thương mại trực tiếp với Trung Quốc đại lục nhằm thu gom tơ lụa thô vận chuyển sang Nhật Bản đổi lấy bạc. Sau khi được quan chức nhà Minh cho phép định cư vào năm 1557 nhờ công hỗ trợ dẹp cướp biển, người Bồ Đào Nha phải trả khoản tiền thuê đất hàng năm gọi là foro do chão trị giá 500 lạng bạc nộp cho chính quyền Trung Quốc cho đến tận năm 1863.
2. Chế độ Pancado tại Nhật Bản có bản chất là gì và được áp dụng như thế nào đối với các thương nhân nước ngoài?
Pancado là hệ thống ấn định giá bán tơ lụa Trung Quốc nhập khẩu vào cảng Nagasaki nhằm ngăn chặn tình trạng thương nhân ngoại quốc đầu cơ tăng giá. Việc định giá bán do một nghiệp đoàn đại diện thương nhân 5 thành phố lớn của Nhật Bản (Kyoto/Miako, Edo/Jedo, Osaka, Sakai và Nagasaki) nắm quyền quyết định. Hệ thống này được Mạc phủ áp dụng đối với người Bồ Đào Nha vào năm 1604, người Trung Quốc năm 1633 và người Hà Lan năm 1641; bị bãi bỏ vào năm 1654 và được áp dụng trở lại vào năm 1685.
3. Vì sao người Hà Lan bị Mạc phủ Tokugawa cưỡng chế chuyển thương điếm từ Hirado về Deshima năm 1641?
Trong chính sách đóng cửa đất nước (Sakoku) nhằm loại trừ hoàn toàn ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa và kiểm soát độc quyền ngoại thương, sau khi trục xuất người Bồ Đào Nha vào năm 1639, Mạc phủ Tokugawa đã ra lệnh phá hủy thương điếm của Hà Lan tại Hirado và buộc toàn bộ nhân sự VOC phải chuyển đến giam chân tại đảo nhân tạo Deshima ở Nagasaki vào năm 1641. Tại đây, mọi hoạt động của người Hà Lan bị quan chức Bugyōsho giám sát gắt gao, không được mang phụ nữ bản địa vào đảo và định kỳ hàng năm từ năm 1652 phải nộp bản tường trình tình hình quốc tế (Fûsetsugaki) lên Tướng quân.
4. Mối liên hệ kinh tế - thương mại cụ thể giữa hệ thống thương điếm Đông Bắc Á của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) với Đại Việt diễn ra theo phương thức nào?
Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) đã tích hợp Đại Việt vào mạng lưới thương mại Nội Á thông qua trục trao đổi hàng hóa tơ lụa lấy bạc kim loại. VOC thiết lập thương điếm tại Đàng Ngoài (Kẻ Chợ, Phố Hiến) để gom tơ lụa bản địa chất lượng cao, sau đó dùng tàu chuyên chở sang các thương điếm ở Đông Bắc Á (Hirado, Deshima) bán để thu về bạc kim loại của Nhật Bản. Lượng bạc Nhật Bản này lại được VOC dùng làm phương tiện thanh toán để mua hương liệu tại Đông Nam Á chuyển về tiêu thụ tại thị trường châu Âu.
5. Phong trào Hà Lan học (Rangaku) tại Nhật Bản hình thành từ cơ sở nào và mang lại hệ quả gì?
Phong trào Hà Lan học hình thành từ sự tiếp xúc duy nhất giữa Nhật Bản với phương Tây thông qua thương điếm Deshima của Hà Lan trong thời kỳ tỏa quốc. Phong trào phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1720 khi chính quyền Mạc phủ Tokugawa chủ trương nới lỏng sự kiểm soát khắt khe đối với việc nhập khẩu và lưu hành sách báo châu Âu không liên quan đến tôn giáo. Nhờ sự chuyển ngữ của tầng lớp thông ngôn (Jurebassos) và các học giả Nhật Bản, trào lưu này đã truyền bá tri thức khoa học, y học giải phẫu, thiên văn, kỹ thuật quân sự phương Tây vào Nhật Bản, góp phần tạo dựng tiền đề tri thức cho công cuộc hiện đại hóa đất nước sau này.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Dương Thị Huyền là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo đã tái hiện một cách hệ thống bức tranh hoạt động của các thương điếm châu Âu tại Đông Bắc Á thế kỷ XVI-XVII. Tác phẩm đã phân tích rõ nét cơ chế vận hành của mạng lưới thương mại Nội Á kết nối Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh với các thị trường Trung Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan. Bên cạnh việc làm rõ các tác động kinh tế và sự tiếp biến văn hóa Đông - Tây thông qua trào lưu Hà Lan học, luận án đã xác lập vững chắc vị trí mắt xích của Đại Việt trong dòng chảy hải thương quốc tế thời sơ kỳ cận đại.