Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu thương điếm của người châu Âu ở một số nước Đông Bắc Á thế kỷ XVI- XVII là một chủ đề rộng và là một vấn đề quan trọng nên đã thu hút được sự quan tâm nhất định của giới sử học quốc tế. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống do hạn chế về mặt tư liệu. Cho đến nay, chỉ có một số công trình nghiên cứu nhỏ lẻ liên quan đến thương điếm của các nước châu Âu nói chung ở châu Á, chưa làm nổi bật được tính hệ thống, khắc họa được lịch sử hình thành, hoạt động và tính chất, đặc biệt là các tác động to lớn đến sự phát triển của các xã hội bản địa Đông Bắc Á. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả một mặt tham khảo triệt để các nguồn tư liệu thứ cấp trong nước đã có, một mặt khai thác các tài liệu lưu trữ nước ngoài cũng như những công trình khảo cứu của các học giả quốc tế.
Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài về thương điếm châu Âu ở một số nước Đông Bắc Á Các tài liệu tiếng nước ngoài Những nguồn tư liệu ngoại văn liên quan đến sự hình thành hệ thống thương điếm châu Âu ở khu vực Đông Bắc Á thế kỷ XVI-XVII tương đối đa dạng, dù đôi khi chỉ phản ánh gián tiếp. Một điều khích lệ là có nhiều tư liệu bằng các cổ ngữ (La-tinh, Bồ Đào Nha…) đã được chuyển ngữ sang tiếng Anh, tạo điều kiện cho việc khai thác những nội dung liên quan đến luận án. Một số tài liệu viết bằng tiếng Nhật, tiếng Hán cũng đã được chuyển ngữ sang tiếng Anh.
Đáng lưu ý là dự án biên dịch tài liệu lưu trữ của Bồ Đào Nha ở Ma Cao thế kỷ XVI-XVII của GS. George Souza (Hoa Kỳ) sang tiếng Anh đã và đang được thực hiện, tạo điều kiện để tôi tham khảo, nghiên cứu đề tài luận án. Trong chuyên khảo “Sino-Portuguese Trade from 1514-1644” (năm 1933), học giả Tien T’se Chang đã phác họa một cách chi tiết và sinh động quá trình lịch sử hơn một thế kỷ hoạt động thương mại của người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc lục địa. Công trình đã khái quát về sự ra đời và hoạt động của thương điếm Bồ Đào Nha tại Ma Cao.
Theo Tien T’se Chang, sự tồn tại của cộng đồng người Bồ Đào 8 Nha ở Ma Cao đã có những tác động không nhỏ đến kinh tế - xã hội Trung Quốc, góp phần đưa quốc gia này hội nhập vào thương mại toàn cầu thế kỷ XVI- XVII. Năm 1977, với công trình “Foundations of the Portuguese Empire, 1415- 1580” hai tác giả B.Winius, đã đi sâu phân tích từng giai đoạn trong quá trình xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha tại châu Á từ các chuyến viễn chinh đầu tiên của Cabral đến A.Albuquerque và các tổng trấn sau này. Tác giả đã dành trọn vẹn chương 21 để phân tích quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào Trung Quốc và Nhật Bản thông qua con đường thương mại. Do đó, tác phẩm chưa đề cập sâu sắc những hoạt động cơ bản, quá trình phát triển của thương điếm Bồ Đào Nha ở Trung Quốc.
Thương điếm ở Nhật Bản vẫn chưa được khảo cứu một cách chi tiết. Năm 1979, công trình “Dutch-Asiatic shipping in the 17th and 18th centuries” của nhóm tác giả J. van Eyck van Heslinga (1979). Nhóm tác giả đã khai thác các nguồn tài liệu được lưu trữ tại kho lưu trữ VOC ở Hà Lan để điều tra một cách tỷ mỉ về quá trình vận chuyển hàng hóa Hà Lan- Châu Á trong các thế kỷ XVII: tên tàu; thuyền trưởng trưởng; ngày khởi hành và ngày đến; thuyền viên; giá trị của vận tải trở lại và bất kỳ sự cố bất thường xảy ra trong những chuyến đi, như một cuộc nổi loạn hoặc bị đắm tàu… Tác phẩm đã dành một dung lượng khá lớn để đối sánh những chuyến đi của Hà Lan so với các Công ty Đông Ấn khác và những mặt hàng thiết yếu để duy trì những tuyến thương mại này.
Công trình khảo cứu: “Fildagos in the Far East, 1550-1770” của sử gia Charles Boxer (năm 1988), đã làm nổi bật lịch sử hoạt động của cộng đồng người Bồ Đào Nha, nhất là cộng đồng giáo sĩ, ở một số khu vực tiêu biểu như Ma Cao và Nhật Bản trong hơn hai thế kỷ. Sự tồn tại và hoạt động của thương nhân, giáo sĩ đã có những tác động sâu sắc đến văn hóa – xã hội của các cộng đồng người bản địa Đông Bắc Á. Boxer còn có chuyên luận “Portuguese Merchants and Missionaries in Feudal Japan 1543 – 1640” (1990), bao gồm 9 chương đã khái quát lên vai trò của nhà truyền giáo và thương nhân Bồ Đào Nha trong giao thương đường biển với Nhật Bản trong một giai đoạn rất đặc biệt (1549- 1640). Những bài viết trong công trình này đã làm nổi bật mối quan hệ thương mại giữa Ma Cao (Trung Quốc) và 9 Nagasaki (Nhật Bản).
Trên cơ sở quan hệ thương mại đó, công trình đã dành một dung lượng đáng kể để chỉ ra một vài ảnh hưởng rõ rệt của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản từ 1542 đến 1640. Năm 1990, Derek Massarella đã hoàn thành chuyên khảo “A World Elsewhere: Europe’s Encounter with Japan in the Sixteenth and Seventeenth Centuries”. Công trình đã đề cập đến quá trình thâm nhập vào Nhật Bản của người châu Âu nói riêng và người Anh nói chung. Thông qua việc phân tích từng chuyến hải hành của Công ty Đông Ấn Anh đến Nhật từ 1613 đến cuối thế kỷ XVII, tác giả đã khái quát về quá trình ra đời, phát triển và suy yếu của thương điếm Anh ở Hirado.
Farrington với “The English Factory in Japan, 1613-1623”, (1991) gồm hai tập, ghi chép về hoạt động của công ty Đông Ấn Anh tại Nhật Bản trong những năm đầu của thời kỳ Edo. Mặc dù thương điếm đầu tiên của người Anh chỉ tồn tại trong 10 năm nhưng công trình đã cho thấy những cố gắng không mệt mỏi của người Anh trong việc thiết lập một mạng lưới thương mại quốc tế mà Nhật Bản là một mắt xích quan trọng trong việc duy trì mạng lưới thương mại nội Á. Tuy nhiên, tác phẩm chỉ tập trung phân tích những tổn thất và khó khăn của người Anh trong những năm đầu tiên giao thương với Nhật Bản. Do thương điếm tồn tại trong một thời gian ngắn nên người Anh chưa thể thiết lập được một bộ máy tổ chức hoàn chỉnh như các đối thủ châu Âu khác.
Chuyên luận, “Portuguese trade in Asia under the Habsburgs, 1580- 1640” (1993) của James C. Boyajian đã cung cấp những tư liệu khá chi tiết về hoạt động của người Bồ Đào Nha ở Viễn Đông đặc biệt trong giai đoạn quan trọng khi vương quốc Bồ Đào Nha được cai trị bởi vị vua Habsburgs (1580- 1640). Boyajian đã khẳng định sự độc quyền của hoàng gia trong việc buôn bán hạt tiêu ở Đông Á. Các thương gia được tin tưởng rằng sẽ được kinh doanh các mặt hàng khác như kim cương, lụa, bông… Đồng thời, ông cũng khẳng định sự tham gia một cách mạnh mẽ của các gia đình theo đạo Kitô vào việc buôn bán ở vùng Đông Ấn.
Luận án “Gold and silver in the marking of early modern 1550- 1737”, của tác giả Linnea Gentry Sheehan khẳng định tầm quan trọng của vàng và bạc trong quá trình củng cố chính trị và thay đổi kinh tế xã hội ở Nhật Bản từ 1550 đến 1737. Các nguồn lực đó đã cho phép Nhật Bản phát triển thể chế chính trị ổn định mà 10 không phụ thuộc vào việc vay hàng hóa, tiền tệ hay các tổ chức chính trị. Tác giả đã dành trọn vẹn phần 5 và 6 của luận án để phân tích vai trò của Nhật Bản trong việc thu hút các nước châu Âu đến buôn bán. Từ đây, Nhật Bản ngày càng tham gia một cách năng động vào dòng chảy chung của hệ thống thương mại quốc tế- một hệ thống kinh tế mới nổi của những nước chịu sự phụ thuộc lẫn nhau.
Chính những kim loại quý này của Nhật Bản là nhân tố quan trọng để các nước châu Âu duy trì những thương điếm không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở cả khu vực Viễn Đông. Công trình “The Dutch East India Company, Expansion and Decline” (2003) của tác giả Gasstra Femme làm sáng tỏ những đặc quyền buôn bán của công ty Đông Ấn Hà Lan ở châu Á. Sử dụng nguồn tài liệu lịch sử khá phong phú, Gasstra đã cho chúng ta thấy những hoạt động mạnh mẽ của VOC ở châu Á, trong đó có sản phẩm giao dịch, những lợi nhuận và những cơ sở tồn tại của công ty trong gần hai thế kỷ XVII- XVIII. Đây chính là tài liệu quan trọng để tôi tìm hiểu quá trình hình thành thương điếm của người Hà Lan ở Đông Bắc Á.
Souza đã hoàn thành hai chuyên luận “The Survival of Empire: Portuguese Trade and Society in China” và “The South China sea 1630- 1754”. Những sự kiện lịch sử đề cập đến trong hai công trình này đều làm nổi bật vai trò của Bồ Đào Nha trong việc duy trì tuyến thương mại Lisbon- Goa- Đông Nam Á- Ma Cao- Nhật Bản. Điểm đặc sắc nhất của tác phẩm là đã chỉ ra những điểm khác biệt của thương điếm Ma Cao trong hệ thống thương điếm của Bồ Đào Nha tại châu Á. Đây là những gợi ý quan trọng cho tác giả hoàn thành chương 3 của luận án.
Năm 2005, Tonio Andrade đã hoàn thành công trình “How Taiwan Became Chinese: Dutch, Spanish, and Han Colonization in the Seventeenth Century. Tonio Andrade đã khái quát về quá trình thâm nhập vùng đất Đài Loan của người Tây Ban Nha và Hà Lan. Đây được coi là công trình phân tích chuyên sâu về những chính sách của người Hà Lan ở Formosa như chính sách khuyến khích lao động nhập cư Trung Quốc phát triển kinh tế nông nghiệp, chính sách kiểm soát hoạt động kinh tế khai thác da đanh. Do đó, đây là tác phẩm quan trọng để tác giả luận án tiếp cận và khai thác về sự ra đời và phát triển của thương điếm Zeelandia của Hà Lan.
Năm 2006, cuốn “Silk for Silver: Dutch- Vietnamese Relation, 1633- 1700”, của Hoàng Anh Tuấn, là một trong số rất ít những công trình nghiên cứu khoa học xã 11 hội ở Việt Nam được xuất bản tại nước ngoài.