CHƯƠNG 1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ANH-MỸ VỀ VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI TRUNG LẬP (1783-1812) 1. Các nhân tố khách quan 1. Vấn đề thương mại trung lập Trung lập là tình trạng pháp lý phát sinh từ việc một quốc gia không tham gia vào bất kỳ cuộc chiến nào giữa các quốc gia khác, duy trì thái độ vô tư đối với các bên tham chiếu và sự công nhận của các bên tham chiến về sự từ chối và vô tư này. Theo luật quốc tế, tình trạng pháp lý này làm phát sinh một số quyền và nghĩa vụ giữa quốc gia trung lập và các bên tham chiến.
Quyền quan trọng nhất trong các quyền có được từ một quốc gia trung lập là quyền toàn vẹn lãnh thổ. Những bên hiếu chiến không được sử dụng lãnh thổ của bên trung lập làm căn cứ hoạt động hoặc tham gia vào các hoạt động thù địch ở đó. Một quốc gia trung lập cũng có quyền duy trì liên lạc ngoại giao với các quốc gia trung lập khác và với các bên tham chiến; quyền yêu cầu tuân thủ các quy định trong nước được thiết kế để đảm bảo tính trung lập của nó; và quyền yêu cầu các bên tham chiến không can thiệp vào giao dịch thương mại của công dân mình, trừ khi sự can thiệp đó được bảo đảm bởi luật pháp quốc tế [28]. Trung lập thương mại được hiểu là những mặt hàng không liên quan tới chiến tranh dù thuộc sở hữu bất kỳ quốc gia nào nên được miễn khám xét, không bị tịch thu khi vận chuyển trên tàu bè của quốc gia trung lập, kể cả trong hoàn cảnh chiến tranh.
Không chỉ vậy, các quốc gia trung lập có quyền tự do buôn bán hợp pháp giữa hải cảng của họ với các hải cảng của quốc gia đang trong tình trạng chiến tranh. Ngoài ra, tàu bè của quốc gia trung lập phải được đối xử với tinh thần cởi mở, phóng khoáng tuy nhiên danh mục các mặt hàng trái phép, ngoài trừ thực phẩm và vật tư hàng hải, không được chuyên chở trong thời kỳ chiến tranh2. Từ sau khi giành độc lập, Mỹ luôn thực hiện chính sách thương mại trung lập nhằm khôi phục, phát triển nền kinh tế và giữ vững chính quyền non trẻ này. 2 Samuel Flagg Bemis (1951), A diplomatic history of the United States (Third edition), Henry Holt and Company Inc, New York, p.
11 Các giới cầm quyền Mỹ luôn duy trì mối quan hệ thương mại trung lập với nhiều nước, đặc biệt là các nước châu Âu như Anh, Pháp. Đối với Anh, người Mỹ xem Anh là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu. Bởi trong giai đoạn trước chiến tranh 1812, hệ thống tài chính của Mỹ phụ thuộc nhiều vào thuế nhập khẩu và nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nếu buôn bán với Anh bị ngưng trệ. Do đó, Mỹ với một quốc gia vẫn còn non yếu về quân sự và kinh tế và khi cục diện chính tranh ác liệt Anh–Pháp đang diễn ra châu Âu, đòi hỏi Mỹ phải đề ra các chính sách phù hợp với tình hình đất nước và bảo đảm lợi ích quốc gia.
Khái niệm thương mại trung lập của Mỹ trong khoá luận này được xác định có bản chất như các khái niệm thương mại trung lập chung kể trên. Tuy nhiên, lịch sử ra đời quan điểm trên phải diễn ra khoảng hơn một thập kỉ kể từ sau chiến tranh giành độc lập. Năm 1793 lần đầu tiên trong Tuyên bố Trung lập, George Washington đã khẳng định quan điểm đối ngoại trung lập đặt nền tảng để nước Mỹ tuyên bố trung lập trên các phương diện khác. Tiếp đó năm 1796, trong Tuyên bố Từ nhiệm, Washington tiếp tục khẳng định lại quan điểm này một lần nữa về quan điểm trung lập của nước Mỹ3.
Đây là cơ sở để nước Mỹ phát triển một đường lối trung lập trong quan hệ với các quốc gia châu Âu cả trên phương diện chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác. Quan hệ quốc tế Âu-Mỹ Quan hệ giữa Anh và Mỹ về vấn đề thương mại trung lập trong thời kỳ hơn 20 năm đầu của nước Mỹ độc lập chịu sự tác động rất lớn từ bối cảnh quan hệ quốc tế trong giai đoạn này, cụ thể là: (1) sự xung đột của mối quan hệ Pháp-Anh; (2) các cuộc chiến tranh của Napoleon. Bối cảnh này là nguyên nhân đưa đến sự xuất hiện của yếu tố thương mại trung lập trên biển trong chính sách của Mỹ và quan hệ Anh-Mỹ. Thắng lợi của cách mạng Mỹ đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên một trong những nhân tố góp phần làm nên điều đó là sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là quan hệ đồng minh với nước Pháp.
Năm 1778, Pháp trở thành quốc gia phong kiến đầu tiên của châu Âu kí với các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ hai hiệp ước về quan hệ thương mại và quan hệ đồng minh. Sự giúp đỡ bí mật trước 3 Nguyễn Trường Uy (hiệu đính, 2013), Tổng thống Mỹ: Những bài diễn văn nổi tiếng, NXB Thế giới, Hà Nội, tr. 12 năm 1778 và sự giúp đỡ công khai của nước Pháp kể từ sau hiệp ước này đã làm nên những thắng lợi quyết định cũng như thu hút sự quan tâm và tham gia của cộng đồng quốc tế trong cách mạng Mỹ. Chỉ 2 năm sau hiệp ước này, nước Pháp bùng nổ cuộc cách mạng tư sản.
Theo quan điểm của các quốc gia phong kiến châu Âu, họ muốn ngăn chặn làn sóng cách mạng tư sản mở rộng phạm vi đã hợp lực can thiệp vào nước Pháp. Trong số các quốc gia này, nổi lên hàng đầu là nước Anh. Các liên minh chống Pháp lần lượt ra đời. Để bảo vệ chính quyền cách mạng, ngày 1 tháng 2 năm 1793 nước Pháp đã tuyên chiến với Anh.
Trong cuộc chiến này, nước Pháp kì vọng: Thứ nhất, nước Mỹ sẽ ủng hộ họ giống như nước Pháp đã từng ủng hộ cách mạng Mỹ. Thứ hai, nếu nước Mỹ không ủng hộ thì cũng sẽ đứng bên ngoài các tranh chấp Anh-Pháp. Trên thực tế, người Pháp nghiêng hẳn về quan điểm Mỹ sẽ tích cực ủng hộ họ như là một cách để trả lại những gì họ đã làm cho nước Mỹ. Trong khi người Anh cho rằng người Mỹ sẽ có dính líu đến người Pháp trong cuộc tranh chấp Anh–Pháp.
Cho nên, dù cho năm 1793 nhận thấy bối cảnh chiến tranh Anh–Pháp, nước Mỹ tuyên bố được tự do trung lập buôn bán nhưng người Anh vẫn không chấp nhận điều đó. Nước Anh nghi ngờ và cho rằng Mỹ không thể đứng ngoài cuộc trước bối cảnh của Pháp. Bên cạnh đó, sau khi lên cầm quyền và thiết lập chế độ thủ lĩnh, Napoleon tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phạt ở châu Âu và bên ngoài. Các cuộc chiến tranh trên biển là một trong những mặt trận nổi bật nhất.
Trong các cuộc chiến này, nhu cầu về hải quân của các bên để có thể đủ sức mạnh chống lại nước Pháp là rất cần thiết. Nước Anh trước thời kì cách mạng của Mỹ có lực lượng hải quân chủ yếu tuyển chọn từ thuộc địa. Tuy nhiên, sau cách mạng, lực lượng này bị mất. Để có thể bảo vệ nước Anh, chống lại nước Pháp, người Anh đã áp dụng lệnh cưỡng bách tòng quân.
Theo đó, các thuỷ thủ trên các tàu buôn của Mỹ đi lại trên các tuyến đường thương mại quốc tế sẽ bị tàu Anh bắt giữ và bắt gia nhập hải quân của Anh. Con số cưỡng bách càng tăng theo sự gia tăng và mức độ căng thẳng trong các cuộc chiến trên biển. Điều đó với nền thương mại trung lập của nước Mỹ bị đe doạ. Nước Mỹ và Anh càng căng thẳng hơn trong việc tìm kiếm được một giải pháp hoà bình cho vấn đề này.
Các nhân tố chủ quan 1. Sự mâu thuẫn thương mại trên biển của Anh và Mỹ Mỹ là một quốc gia non trẻ, để giải quyết các vấn đề đặt ra, bên cạnh việc điều hành các khoản thuế khóa trong nước, chính quyền các đời tổng thống đẩy mạnh hoạt động thương mại, chú trọng nhất trong lĩnh vực ngoại thương. Cơ sở thúc đẩy cho hoạt động nói trên dựa vào đội tàu buôn vốn hưng thịnh dưới thời thuộc địa. Với tư cách thành viên trong đế chế Anh, đội tàu buôn Bắc Mỹ được hưởng những quy chế đối xử bình đẳng với thương thuyền mẫu quốc, chia sẽ những đặc quyền trong mạng lưới thương mại nội khối, nhận lấy sự bảo vệ của Hải quân Hoàng gia.
Vì vậy, nhiều mặt hàng có nguồn gốc Bắc Mỹ, như: thuốc lá, gạo, chàm, bột mì, thịt tươi sống, cá, rượu rum, lông thủ, gỗ xẻ.có mặt khắp các thị trường: quần đảo Anh, châu Âu, châu Phi và Tây Ấn. Đổi lại, thương nhân Mỹ mang về hàng hóa công nghiệp, đường, mật đường, nô lệ và gia vị. Lợi nhuận thương mại thu lại hết sức to lớn cho các chủ tàu. Nguồn thu nhập của Mỹ từ năm 1803 đến năm 1807, ngoại thương của Mỹ tăng gấp 7 lần từ 13,6 triệu USD lên đến 107 triệu USD [13, tr.
Từ những nguồn lợi thu được đấy, nước Anh nhận thấy rằng đó là nguy cơ đối với uy thế tuyệt đối hàng hải trên biển của họ. Tàu buôn Mỹ chỉ được phép tiếp cận các hải cảng ở quần đảo Anh trong khi các hải cảng trong đế chế bị hạn chế. Điều này là sự khởi đầu khiến Anh và Mỹ trở thành đối thủ thương mại trong tương lai. Hơn nữa, nước Mỹ nhận thấy rằng mặc dù Anh là thị trường, đối tác quan trọng hàng đầu của họ.
Thế nhưng nước Mỹ không thể phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường Anh được. Sự phụ thuộc của Mỹ vào Anh sẽ làm cho họ một ngày nào đó có nguy cơ bất ổn trong nền kinh tế nếu nước Anh và Mỹ có mối quan hệ căng thẳng. Về phía Anh, họ cũng nhận ra điều đó. Trong cuộc cạnh tranh này cả hai đều mở rộng đối tác thương mại với bên ngoài.
Mỹ mở rộng thì trường với nước Pháp và các thuộc địa của Pháp ở Tây Ấn, với các quốc gia khu vực Địa Trung Hải như sự tìm kiểm giải pháp thay thế một phần cho sự lệ thuộc vào thị trường Anh. Nước Anh nhận thấy được mong muốn, tham vọng mở rộng hoạt động thương mại của Mỹ do đó họ cũng tìm cách ngăn cản. Nước Anh mong muốn và hạn chế sự phát triển có thể thể của nền thương mại trên biển của Mỹ. Vì vậy, việc Mỹ tuyên bố phát triển một nền thương mại trung lập là không phù hợp với quan 14 điểm của nước Anh.
Điều này cùng với các lý do khác là nguyên nhân để Anh thực thi các hoạt động ngăn chặn sự phát triển của nền thương mại trung lập, làm căng thẳng giữa hai quốc gia về vấn đề này.