mở đầu cho thời kỳ độc lập. Trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần. Đại Việt vừa phát triển trong nước và vừa có điều kiện giao lưu thông thương với các nước bên ngoài. Trong các quốc gia khu vực Đông Nam Á, có thể nói Đại Việt là một trong những nước có thế lực mạnh nhất trong thời trung cổ.
Tiếp theo là Champa, tiếp nối vương quốc Lâm Ấp, vương quốc Champa được hình thành và kiểm soát miền Trung Việt Nam từ thế kỷ VII, Champa chịu các ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc và vương quốc Khmer. Thể kỷ X, Champa phát triển mạnh với các công trình kiến trúc kỳ vỹ và độc đáo là hệ thống các đền tháp trải dài từ Quảng Nam đến Ninh Thuận còn tồn tại tới ngày nay. Tuy thương mại Champa không phát triển như những quốc gia khác, nhưng Champa lại là nơi lui tới thường xuyên của tàu thuyền nước ngoài, nhờ vị trí địa lý và nhờ tài nguyên nơi đây khá dồi dào. Kế đến là vương quốc Khmer, Khmer đã phát triển mạnh từ đầu thế kỷ IX và đạt đến độ cực thịnh vào thế kỷ XII, XIII.
Vào thời kỳ cực thịnh nhất của mình đế chế Khmer đã kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn vào gồm Campuchia, miền nam Việt Nam, Lào, phần lớn Thái Lan ngày nay. Nổi tiếng ở Khmer thời kỳ này là công trình kỳ vỹ Angkor Wat được xây dựng đầu thế kỷ XIV. Vương quốc hồi giáo Malacca - Được thành lập bởi việc thái tử Paramesvara vào cuối thế kỷ XIV tới đây để lánh nạn, khi cuộc chiến giữa vương quốc Majapahit 11 ở đảo Java và Srivjaya ở Sumatra xảy ra. Ban đầu, thái tử Paramesvara chạy sang Tumasik (Singapore ngày nay), nhưng sau đó bị đánh bật khỏi đây và tiếp tục chạy sang định cư, lập nghiệp ở Malacca.
Được những người Mã Lai từ Palembang đến đây mỗi ngày một đông, Malacca nhanh chóng trở thành một khu định cư lớn. Năm 1403, nhân một sứ giả nhà Minh đến đây, ông đã xin nhà Minh công nhận là một quốc gia và ủng hộ ông chống lại vương quốc Ayutthaya của người Thái ở phía bắc. Nhờ vào một vị trí thuận lợi để buôn bán và kiểm soát eo biển, Malacca ngày càng phát triển. Các thương nhân người Ả rập đã truyền bá đạo Hồi đến đây, Malacca chính thức trở thành một vương quốc Hồi Giáo.
Vào thời cực thịnh của mình, vương triều Malacca đã kiểm soát các vùng đất ở bán đảo Mã Lai và một phần phía đông đảo Sumatra. Năm 1511, Bồ Đào Nha đã chinh phục Malacca. Tiếp đến là Majapahit. Năm 1293, quân Nguyên Mông đổ bộ tấn công vào Java, một người con rể của vua Kediri là Vijaya đã đánh bại quân xâm lược và thiết lập nên một triều đại mới là Majapahit.
Vào thời cực thịnh của mình ở thế kỷ XIV, Majapahit đã kiểm soát một vùng rộng lớn bao gồm đảo Java, đảo Borneo, đảo Bali và thậm chí một phần phía đông của đảo Sumatra. Sang cuối thế kỷ XV, Majapahit suy yếu. Kế tiếp là Srivijay. Vào thế kỷ IX, sau khi bị vương triều Sanjaya đánh bại và lập ra vương quốc Mataram ở đảo Java, một người con thứ của vị vua Sailendra đang kiểm soát ở đảo Sumatra chống lại Mataram và thành lập nên vương triều Srivijaya.
Được sự giúp đỡ của nhà Tống (Trung Quốc) cũng như vương quốc Chola (ở Ấn Độ), các vị vua Srivijaya đã chống lại được các cuộc tấn công của Sanjaya và thành lập nên nhà nước Srivijaya ở thế kỷ X. Tới thế kỷ XI, Srivijaya đạt tới cực thịnh sau khi kiểm soát đảo Sumatra, đông đảo Java và bán đảo Mã Lai, kiểm soát hoạt động thương mại qua eo biển Malacca. Từ thế kỷ XIII, quyền lực của Srivijaya dần bị suy yếu bởi một phần bởi hoạt động thương mại chuyển về Java của Majapahit cùng với sự tấn công của người Xiêm xuống bán đảo Mã Lai và đặc biệt là sự trỗi dậy của Majapahit, Majapahit đã giành được đông Java và tấn công thủ đô Palembang ở Sumatra, tàn phá thành phố này vào năm 1392. Sang thế kỷ XV, vương quốc Malacca hình thành ở bán đảo Mã 12 Lai lớn mạnh đã thay thế Srivijaya và kiểm soát phần lớn lãnh thổ của Srivijaya để lại.
Tiếp đến là Trung Hoa, trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến khoảng đầu thế kỷ XVII, các triều đại từ nhà Đường đến nhà Minh cai trị, đất nước đã phát triển phồn thịnh với nhiều phát minh vĩ đại như: súng đạn, in ấn, tiền giấy, la bàn. Đóng góp rất lớn đến văn minh chung của nhân loại. Đối với Philippines, với đặc thù về địa lý là các quần đảo nhỏ, nên các xã hội cũng phát triển một cách rải rác trên các hải đảo và từ sớm đã có mối quan hệ mua bán với các nước quanh khu vực Biển Đông bằng đường biển. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII, khi đạo Hồi đã du nhập và trở thành tôn giáo chính cùng một số tôn giáo khác cùng duy trì và phát triển đến nửa cuối thế kỷ XVI, khi Tây Ban Nha xâm chiếm làm thuộc địa và Thiên Chúa giáo được lan truyền rộng rãi nhưng vẫn duy trì việc giao thương đường biển, hàng hóa được du nhập vào Philippines cũng ngày một đa dạng hơn, nhưng chủ yếu là các loại lương thực.
Nhìn chung, trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII ở các nước trong khu vực tiếp giáp Biển Đông là sự nối tiếp nhau thành lập các vương quốc, cả vương quốc Hồi Giáo hay những quốc gia theo Phật giáo và tôn giáo khác. Có những vương quốc duy trì được sự ổn định và phát triển của mình, nhưng cũng có những quốc gia chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian khá ngắn. Các quốc gia kể trên là những quốc gia hoạt động thương mại sôi nổi trong khu vực. Hay cũng có thể nói, mỗi quốc gia kể trên đã đóng một vai trò lớn đối với nền thương mại hàng hải ở Biển Đông.
Dù mang trên mình màu áo của tôn giáo nhưng mục đích của họ vẫn chính là thuận lợi hơn trong việc giao thương. Sự truyền bá hay tiếp nhận đều ở thể chủ động tiếp cận mà không phải xuất phát từ một sự ép buộc nào. Chính những điều này đã tạo nên một bức tranh đa sắc của thương mại trong thời kỳ phát triển trên Biển Đông. Bên cạnh đó, là lĩnh vực tư tưởng và tôn giáo cũng hình thành và phát triển, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của từng quốc gia nói riêng hay thương mại đường biển nói chung.
Đó là sự lớn mạnh của các quốc gia Hồi giáo thống trị thương mại biển trong một khoảng thời gian dài, tạo nên thời kỳ phát triển của 13 thương mại trên Biển Đông. Tóm lại, các quốc gia xung quanh khu vực ở Biển Đông trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến XVII đều ở trong giai đoạn phát triển, dù có những cuộc xâm lăng nhưng đó như là một điều tất yếu của lịch sử để các nước thể hiện uy thế của mình. Trong đà phát triển đó là sự giao thương qua lại lẫn nhau dựa trên đường bờ biển dài, thuận tiện đi lại giữa các nước cùng việc phát triển hàng hải của mỗi quốc gia, nhu cầu mở rộng thị trường, tìm kiếm những mặt hàng trong nước còn khan hiếm, tạo nên thời kỳ phát triển về thương mại trên Biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII. Vai trò của Biển ông với sự phát triển kinh tế của các quốc gia quanh khu vực Biển ông từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII.
ối với các nƣớc trong khu vực. Mạng lưới thương mại của biển Biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII là một môi trường thương mại khá sôi nổi và mang sức hút lớn đối với các nước trong và ngoài khu vực. Với các tuyến đường dài, các thương cảng tương đối bận rộn và sự lựa chọn hàng hoá đa dạng các sản vật địa phương, hàng hóa từ bên ngoài khu vực mang lại trong lưu thông. Kết quả là dọc theo bờ biển phía nam và phía đông của Biển Đông mọc lên các điểm để các thương gia thường xuyên liên lạc với nhau và tạo thuận lợi cho việc trao đổi ý tưởng, sản xuất và sản phẩm thô trên khoảng cách rộng lớn và tình cờ thúc đẩy hình thành các cộng đồng lai tạo đặc biệt có các thành viên trung gian giữa người dân bản địa và các thương gia đi du lịch.
Theo sự truyền miệng và thực tế, sức sống của Biển Đông đã thu hút được nhiều thương nhân và du khách từ lưu vực Địa Trung Hải và châu Âu, những báo cáo của họ đã thêm vào sự hấp dẫn của khu vực và giúp thiết lập các sự kiện nhằm đạt được kết quả trong việc phát hiện ra một tuyến đường biển trực tiếp đến châu Á và bất ngờ hơn là việc khám phá ra châu Mỹ. Trong một số ghi chép của người Hoa về những hải trình mà họ trực tiếp đi qua Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan và Vịnh Bengal đã rút ra được những ưu điểm của con đường này là: Thứ nhất, nó nhanh gọn, từ những eo biển có thể trực tiếp hải hành đến những địa điểm định sẵn, so với việc đi men theo các bờ biển thêm vài ngàn hải lý. 14 Thứ hai, có thể kết hợp và duy trì việc lợi dụng hướng gió và các dòng hải lưu, làm cho tốc độ hải trình ngày càng nhanh. (Cao Vỹ Nồng, 1995) Có thể nói, mọi sự lớn mạnh từ kinh tế có ảnh hưởng lớn từ biển.
Ví dụ ở Trung Hoa: Theo ước tính, khoảng hai phần ba sứ mệnh cống nạp tới Trung Hoa đã đến bằng đường biển. Nó góp phần không nhỏ trong thu nhập của chính phủ Trung Hoa. Ở thời nhà Tống, tình hình trong nước bất ổn và chưa thống nhất khi ở đầu triều đại các vua Tống đều phải cố gắng trong việc thống nhất đất nước, kêu gọi nhân dân trở về quê cũ làm ăn, sinh sống, khai khẩn đất hoang, ổn định lại nông nghiệp. Tức lúc này, nguồn lợi từ nông nghiệp chưa thể đáp ứng nhu cầu về thu nhập của chính phủ.
Trong khi đó, Trung Hoa lại có những điều kiện khá thuận lợi về việc mở rộng thế lực ra bên ngoài nhờ kỹ thuật đóng tàu tân tiến, kinh nghiệm đi biển sẵn có cùng những phát minh lớn giúp cho các đoàn tàu thuyền có thể đi xa hơn. Các vị vua đều hiểu rằng việc phát huy thế mạnh từ đường biển là tất yếu và thường xuyên cho người đi thám hiểm, mang theo những sắc lệnh của nhà vua đến những quốc gia khác, bắt họ thần phục và triều cống.