150 Edward Brown, vào đời vua Tự Đức, không chỉ kỹ thuật đóng tàu mà cả lực lượng hải quân và vũ khí của Việt Nam bị suy giảm nghiêm trong (Patrick J. 143) dù trước đó không lâu chính tướng Bodin của Xiêm đã bảy tỏ sự lo ngại về sức mạnh thủy quân của Việt Nam khi ông tấn công Hà Tiên. Quan hệ thương mại giữa vùng Nam Bộ với một số nước Đông Nam Á hải đảo (nửa đầu thế kỷ XIX) Trong nửa dau thé ky XIX, triều đình Huế không thiết lập bang giao chính thức với các nước phương Tây nhưng duy trì buôn bán với cảng thuộc địa và các cơ sở thương mại của các nước phương Tây ở Đông Nam Á hải đảo. Vua Gia Long thường sai phái thuyền hiệu của triều đình Huế đến các cảng thuộc Đông Nam Á hải đảo mua sắm vũ khí, hàng hóa và thu thập tin tức tình báo.
Đến thời vua Minh Mệnh, mặc dù sự nghi ky của triều đình Huế đối với các nước phương Tây sâu sắc hơn nhưng cũng chính trong giai đoạn vua Minh Mệnh và Thiệu Trị cai trị, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Singapore (cảng thuộc địa của Anh ở Đông Nam A) lại phát triển nhanh chóng. Gia Dinh Thanh (sau là Nam ky lục tinh) là vùng có hoạt động buôn bán tư nhân với các cảng thuộc địa của phương Tây ở Đông Nam Á nhộn nhịp nhất. Điều này cho thấy một xu hướng hội nhập của vùng Nam Bộ vào thương mại khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ.1 Một số hoạt động mậu dịch triều đình giữa chính quyền nhà Nguyễn với một số cảng thuộc địa của các nước phương Tây ở Đông Nam Á hải đảo Vào cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh từng cử thuyền đến cảng thị của các vương quốc Hồi giáo ở Đông Nam A hải đảo như Batavia (năm 1791), Johor (năm 1797), Goa/Malaka (năm 1793) (Ch'en, Ching—ho, 1994, tr.110) dé mua vũ khí, dan được. Sau khi lên ngôi vua, chính sách bang giao của vua Gia Long với Đông Nam Á hải đảo thay đổi.
Vua Gia Long và những người kế vị ông xem Trung Quốc là trung tâm văn hóa, Đông Nam Á hải đảo là “hạ vực”. Quan điểm này được biểu hiện trong việc sử dụng sứ đoàn đi công vụ. Đối với các sứ đoàn đi Trung Quốc, triều đình Huế chọn những người có tài ngoại giao, tri thức, giỏi văn học và giỏi ngôn ngữ. Ngược lại, thành viên trên các thuyền “Hạ Châu công vự” đều là các vị quan lại đang chịu tội.
Hoàn thành “Hạ Châu công vự” là một hình thức lấy công chuộc tội. Dưới thời Gia Long, triều đình Huế “không có sứ đoàn chính thức đến Hạ Châu” (Claudine Salmon, 2013, tr. Lữ Tống (Philippines) là một trong những trường hợp hiếm hoi được ghi chép trong 7c luc là có buôn bán với Việt Nam. Năm 1804, Lữ Tống 151 sai Đá Sot dâng biểu lên vua Gia Long dé mua gạo.
Vua Gia Long cho Cai Tàu vụ Nguyễn Đức Xuyên lãnh 4 đạo Quốc thư đến tàu trưởng Đá Sót của Lữ Tống. Trước đó, thuyền triều đình Huế bị gió “bạt trôi đậu tại Lữ Tống” đã được Lữ Tống giúp đỡ. Triều đình Huế cho Đá Sot vào thành Gia Dinh, “chở 5 ngàn tạ gạo”, “cấp cờ hiệu, ban tờ phó làm tin dé trở về được ồn thỏa” (Nguyễn Đức Xuyên, 2015, tr.5; Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002, tr 590). Vua Gia Long khuyến khích thuyền từ Lữ Tống đến Gia Định buôn bán.
Năm 1819 đánh dau bước chuyên mới trong giao thương giữa Việt Nam và Dong Nam A hải đảo. Thứ nhất là việc Công ty Đông An Anh thành lập cảng tự do thương mại Singapore”7. Thứ hai là việc Trung úy Hải quân Mỹ John White viếng thăm Sài Gòn dé liên hệ ngoại giao và giao thương với Việt Nam. Thứ ba là việc triều đình Huế đánh thuế thuyền buôn từ “Quảng Bình về Nam phần” của Việt Nam đến buôn bán ở Tân Gia Ba (Singapore).
Sự ra đời của cảng tự do Singapore gần như ngay lập tức đã thu hút sự quan tâm của triều đình nhà Nguyễn (Reid, A. Thực lục chép: “Dat ky phủ, tư huyện, tư châu ở Gia Dinh. Phàm người buôn ngoại quôc đên ở Gia Định thì biên mà cai quản. Chuẩn dinh từ Quảng Bình về Nam phàm thuyền dân đi buôn ở Hạ Châu [Tân Gia Ba] thì đánh thuế, lay thuyền lớn nhỏ làm bậc.
(Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002, tr. Khác với giai đoạn 1802 — 1820, mậu dịch giữa triều đình Huế và các cảng thị thuộc địa phương Tây ở Đông Nam A hải đảo tăng đáng ké đưới thời vua Minh Mệnh và vua Thiệu Trị. Theo thống kê của Trần Kính Hòa, trong nửa dau thé kỷ XIX, triều đình Huế cử thuyền công vụ đến Batavia (lần lượt vào các năm 1825, 1826, 1830, 1832, 1832/1833, 1836, 1836/1837, 1839, 1840, 1842, 1844 và 1846/47), 6 lần đi sứ sang Singapore (lan lượt vào các năm 1832, 1836/37, 1840, 1842, 1844, 1846 — 1847), 2 lần đi biển Tiểu Tây dương (1835 — 1836, năm 1839) tới Penang (năm 1832, 1836-1837) tới Semarang (miền Trung Java, 1839, 1840) và tới Luzon (1832, 1835) (Chten, Ching-ho, 1994, tr. Căn cứ theo ghi chép của tờ The Singapore Free Press and Mercantile 77 Trước khi Singapore được thành lập, Nguyễn Ánh cũng từng cử thuyền đến Johor năm 1797.
Quốc vương Johor chính là người quản lý trên danh nghĩa khu định cư người Mã Lai có dân số chỉ vài trăm người, cũng chính là địa điểm người Anh xây dựng cảng Singapore. 152 Advertiser, The Singapore Chronicle and Commercial Register thì số lượng thông kê của Trần Kính Hòa là chưa đầy đủ. Mục đích của thuyền “Hạ Châu công vụ” là để tìm kiếm tin tức chính trị, kiến thức địa lý và nghiên cứu khoa học, mục tiêu thương mại là thứ yếu” (S. 7ực luc cũng ghi chép tương tự về mục đích của những chuyền đi này.
Tháng 11/1835, vua Minh Mệnh phái thuyền Linh Phượng (Phụng) đi Tiểu Tây dương với mục đích “cho quen thuộc đường biên và biết hình thế, phong tục các nơi, không phải dé cầu lợi”. (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007c, tr. Theo ghi chép của tờ Commercial Register số ra ngày 28/3/1833, 2 thuyền hiệu của triều đình Huế đã đến Calcutta (Ấn Ðộ) năm 1832, I thuyền đến đến Manila (Philippines, thuộc địa Tây Ban Nha). Cũng chính 2 con thuyền này (cùng 2 con thuyền khác) đã đến Singapore (cảng thuộc địa Anh) và ghé thăm Batavia (thuộc địa Hà Lan).
Trên mỗi thuyền hiệu này đều có quan lại nhà Nguyễn. Tại Singapore, quan lại của triều đình Huế đã yêu cầu được cung cấp những tờ báo về Án Độ như Calcutta, Madras, Bombay, Cape, Canton và Australian Paper,. Những người châu Âu trong triều đình Huế sẽ dịch nội dung chính của những tờ báo này cho vua Minh Mệnh đọc (S. Hoa tiêu của những thuyền hiệu của triều đình Hué thường là người châu Âu hoặc người Macao.
Mậu dịch triều đình do chính quyền nhà Nguyễn tiễn hành với Singapore bắt đầu từ năm 1823. Năm 1823, triều đình Huế cử 2 thuyền hiệu đến Singapore đề thiết lập độc quyền thương mai, mua hàng len da, pha lê và thủy tinh. Mậu dich triều đình có nhiều lợi thé hon han so với buôn bán tư nhân. Thứ nhất, chính sách độc quyền giúp triều đình Huế mua hoặc trưng thu lượng lớn hàng hóa.
Thứ hai, các vua Nguyễn sử dụng “những tàu làm theo kiểu Âu châu và được vũ trang như thuyền chiến” (Thành Thế Vỹ, 1961, tr.230), giúp thuyền công vụ di chuyên an toàn qua vùng biển có nhiều cướp biển như vịnh Xiêm La (Wong Lin Ken, 1960, tr. Triều đình Minh Mệnh cũng chuẩn định thê lệ về số đại bác, đạn được trang bị cho các thuyền công vụ vảo các năm 1832, năm 1836 (Quốc sử quán triều Nguyễn, 20074, tr. Nam Bộ là một trong những địa phương đóng thuyền hiệu cho triều đình Huế. Năm Minh Mệnh thứ 13, thành Gia Định chịu trách nhiệm đóng 9 chiếc thuyền hiệu cho triều đình.
(Nội Các triều Nguyễn, 1993, tr. Một số thuyền hiệu do triều đình Huế cử đi công vụ ở Hạ Châu xuất phát từ vùng Nam Bộ hoặc từ cảng Đà Nẵng ghé Sài Gòn trước khi đến Hạ Châu. Theo những thông tin được ghi chép trên tờ The Singapore Free Press and Mercantile Advertiser sô ngày 21/1/1836, thuyền hiệu Phan Bang từ Sài Gòn 153 di Singapore (S. Sau khi đến Singapore, điểm hướng đến tiếp theo của thuyền hiệu Phan Bằng là Penang (Malaysia) (S.
Trọng tải của thuyền hiệu Phan Bang được ghi nhận là 300 tấn (S. Đến tháng 3/1836, thuyền hiệu Phan Bang cập cảng Singapore lần nữa. Cùng thuyền hiệu Phan Bằng, thuyền hiệu Lim Fong (có thé là Linh Phụng) do một người tên là Voyoung làm thuyền trưởng (commanders) cũng đến Singapore trong đợt này và bán 2. Thuyền hiệu Linh Phượng thậm chí đã đến Calcutta (An Độ) với 1.000 piculs gỗ vang (sapan—woods), có giá trị 11.
Ngoài Sài Gòn, Hà Tiên va Can Giờ cũng là cảng mà thuyền hiệu nhà Nguyễn xuất phát đi Hạ châu hoặc neo đậu khi trở về từ Hạ Châu. Băng chứng là vào năm 1839, thuyền hiệu An Dương đi công cán từ Hạ Châu đã đậu ở cảng Cần Giờ. (Quốc sử quán triều Nguyễn, 20074, tr. Triều đình Huế thực hiện chính sách thưởng phạt và quy định thời gian chuẩn bị cho từng chuyến đi “Hạ Châu công vụ”.
Theo đó, những thuyền công vụ không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị trị tội rất nặng (Hedde, M. Năm 1836, triều đình Huế quy định chế độ làm việc cho thủy thủ phục vụ những lần xuất ngoại. Theo quy định năm 1840 của triều đình Huế, thuyền được cử đi Lữ Tống, Giang Lưu Ba, Tam Ba Lăng, Phú Lãng Sa, những người tham gia sẽ được nghỉ việc trước 15 ngày. Thuyền hiệu cử đi Tân Gia Ba, Hạ Châu, do đường di hơi gần nên chỉ được nghỉ việc trước 10 ngày.
“Đến ngày xong việc công về tới nơi, thì đi nơi rất xa cho 15 ngày, nơi hơi xa cho 10 ngày, nơi hơi gần cho 5 ngày, đề về ngụ sở nghỉ ngơi, hết hạn nghỉ lại làm việc như cũ”. (Quốc sử quán triều Nguyễn, 20074, tr. Theo Hồi kỳ của M.Isidore Hedde (1846), một thành viên của phái bộ Pháp đến Trung Quốc, thì: “Nha vua nam giữ độc quyên buôn bán. Ông ấy mua hang của thần dân theo giá mà ông chỉ định và gửi tàu (của triều đình) đi bán ở các cảng nước ngoài.
Ông kinh doanh 5 thuyền có cánh buồm hình vuông (Square-Rigged Vessels) và tàu hơi nước (cái mà) được đóng trong nước. Ông gửi chúng đến Quảng Châu (Canton), đến Singapore, đến Batavia, và đôi khi đến Calcutta”.