Luận văn: Phân tích sử dụng thuốc ĐTĐ týp 2 tại BV Phúc Yên (Trần Thị Kiều)

Luận văn phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại BVĐK Phúc Yên. Đánh giá hiệu quả kiểm soát đường huyết, huyết áp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sỹ chuyên khoa cấp I

2025

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về điều trị đái tháo đường týp 2

Đái tháo đường týp 2 là một bệnh mãn tính phổ biến ảnh hưởng đến millions người trên toàn thế giới. Bệnh này xảy ra khi cơ thể không sản xuất đủ insulin hoặc không sử dụng insulin một cách hiệu quả. Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, việc quản lý ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường được thực hiện một cách có hệ thống và khoa học. Nghiên cứu từ Trường Đại học Dược Hà Nội cho thấy mục tiêu chính của điều trị đái tháo đường là kiểm soát nồng độ đường huyết, giảm các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc lựa chọn thuốc phải dựa trên đặc điểm cá nhân và tình trạng sức khỏe của từng bệnh nhân, đồng thời cần giám sát định kỳ để đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu.

1.1. Khái niệm và phân loại đái tháo đường

Đái tháo đường được chia thành nhiều loại khác nhau. Đái tháo đường týp 2 chiếm khoảng 85-90% các trường hợp và thường phát triển ở người trưởng thành. Bệnh này liên quan đến kháng insulin và giảm khả năng tiết insulin của tuyến tụy. Các yếu tố nguy cơ bao gồm béo phì, lối sống không lành mạnh, và tiền sử gia đình. Chẩn đoán dựa trên nồng độ glucose lúc đói, HbA1c, hoặc kết quả kiểm tra dung nạp glucose.

1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Bệnh sinh của đái tháo đường týp 2 liên quan đến hai vấn đề chính: kháng insulinsuy giảm chức năng beta. Kháng insulin xảy ra khi các tế bào không phản ứng tốt với insulin, dẫn đến nếu glucose không được hấp thụ hiệu quả. Đồng thời, tuyến tụy không thể sản xuất đủ insulin để bù đắp. Các yếu tố gây stress oxy hóa, viêm mãn tính, và rối loạn nội tiết tố đều góp phần vào sự phát triển của bệnh.

II. Các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường týp 2

Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, các bác sỹ sử dụng nhiều nhóm thuốc điều trị đái tháo đường khác nhau. Metformin là thuốc lựa chọn đầu tiên, hoạt động bằng cách giảm sản xuất glucose gan và tăng độ nhạy insulin. Nhóm Sulfonylure kích thích tuyến tụy tiết insulin, nhưng có nguy cạnh tạo hạ đường huyết. Thuốc giống Incretin như DPP-4 inhibitorsGLP-1 agonists tăng cường tiết insulin khi glucose cao. SGLT-2 inhibitors là những thuốc mới tạo ra lợi ích tim mạch và thận. Lựa chọn phác đồ điều trị cần cân nhắc hiệu quả, tác dụng phụ, chi phí, và tình trạng sức khỏe toàn diện của bệnh nhân.

2.1. Nhóm Sulfonylure và Meglitinid

Sulfonylure bao gồm gliburid, glipizid và glicazid. Chúng kích thích tuyến tụy tiết insulin, hiệu quả trong việc hạ glucose máu. Tuy nhiên, nhược điểm là có nguy cạnh gây hạ đường huyết nặng, tăng cân, và có liên quan đến tăng nguy cạnh tim mạch. Meglitinid hoạt động tương tự nhưng có thời gian tác dụng ngắn hơn, phù hợp cho bệnh nhân ăn bất thường.

2.2. Thuốc ức chế DPP 4 và GLP 1 agonists

DPP-4 inhibitors (Gliptin) như sitagliptin và linagliptin giảm phân hủy incretin, tăng tiết insulin phụ thuộc glucose. GLP-1 agonists như dulaglutide có tác dụng giảm HbA1c mạnh hơn, giảm cân, và bảo vệ tim mạch. Cả hai nhóm có tính an toàn cao, ít gây hạ đường huyết, phù hợp cho bệnh nhân cao tuổi hoặc suy thận nhẹ.

2.3. SGLT 2 inhibitors và thuốc ức chế alpha glucosidase

SGLT-2 inhibitors (empagliflozin, dapagliflozin) tăng bài thải glucose qua nước tiểu, có lợi ích bảo vệ thận và tim. Alpha-glucosidase inhibitors (acarbose, miglitol) giảm hấp thụ glucose từ ruột, thích hợp cho bệnh nhân đặc biệt tăng đường huyết sau ăn. Cả hai loại ít gây hạ đường huyết, thường dung nạp tốt.

III. Hiệu quả điều trị tại Bệnh viện Phúc Yên

Nghiên cứu của Trần Thị Kiều tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2024 phân tích hiệu quả điều trị trong 6 tháng theo dõi. Kết quả cho thấy kiểm soát glucose được cải thiện đáng kể, với FPGHbA1c giảm từ thời điểm T0 đến T6. Huyết áp cũng được kiểm soát tốt, đặc biệt ở bệnh nhân sử dụng SGLT-2 inhibitors hoặc GLP-1 agonists. Chỉ số lipid máu bao gồm LDL-cholesterol, HDL-cholesterol, và triglycerid đều cho thấy xu hướng cải thiện. Chức năng thận được theo dõi thông qua eGFR, và bệnh nhân được quản lý ngoại trú một cách khoa học theo các hướng dẫn hiện đại.

3.1. Kiểm soát glucose huyết và HbA1c

Sau 3 tháng điều trị, FPG giảm trung bình từ 7-8 mmol/L đến 6-7 mmol/L. HbA1c giảm từ trên 8% xuống dưới 7%, biểu thị kiểm soát glucose tốt. Sau 6 tháng, kết quả ổn định và cải thiện thêm. Bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị, kết hợp với thay đổi lối sống, đạt hiệu quả tối ưu.

3.2. Kiểm soát huyết áp và chỉ số lipid

Huyết áp tâm thu giảm từ 140-150 mmHg xuống 120-130 mmHg. LDL-cholesterol giảm đáng kể, còn HDL-cholesterol tăng. Triglycerid được kiểm soát tốt. Các thay đổi này giảm nguy cạnh tim mạchbiến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường.

IV. Khuyến nghị và kết luận về điều trị

Dựa trên kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, quản lý bệnh nhân đái tháo đường týp 2 ngoài trú cần tuân thủ các hướng dẫn lâm sàng hiện đại. Metformin vẫn là thuốc lựa chọn đầu tiên, nhưng cần kiểm tra chức năng thận trước khi sử dụng. Đối với bệnh nhân kháng insulin nặng hoặc cần bảo vệ tim mạch, GLP-1 agonists hoặc SGLT-2 inhibitors là lựa chọn tốt. Giám sát định kỳ HbA1c, glucose, huyết áp, lipid máu, và chức năng thận là cần thiết. Bệnh nhân cần được tư vấn dinh dưỡng, tăng hoạt động thể chất, và giảm cân để cải thiện sensitivity insulin và kiểm soát bệnh hiệu quả.

4.1. Những lưu ý quan trọng trong điều trị

Tuân thủ điều trị là chìa khóa thành công. Bệnh nhân cần hiểu rõ về tác dụng phụ của thuốc và lợi ích kỳ dài. Tối ưu hóa phác đồ cần được điều chỉnh dần dần dựa trên phản ứng lâm sàng. Phòng chống biến chứng ththrough kiểm soát glucose, huyết áp, và lipid là ưu tiên. Kết hợp điều trị với thay đổi lối sống giúp đạt hiệu quả tốt nhất.

4.2. Triển vọng và hướng phát triển

Các thuốc mới như SGLT-2 inhibitorsGLP-1 agonists mở ra cơ hội mới trong điều trị đái tháo đường. Nghiên cứu lâm sàng tiếp tục chứng minh lợi ích tim mạchthận của những thuốc này. Cá nhân hóa điều trị dựa trên gene, chỉ dấu sinh học, và các yếu tố lâm sàng là xu hướng tương lai của quản lý bệnh nhân đái tháo đường.

28/12/2025
Trần thị kiều phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 quản lý ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện đa khoa khu vực phúc yên năm 2024 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hoá không đồng nhất, có đặc điểm tăng đường huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hoá carbohydrat, protein, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [1].

Phân loại đái tháo đường Đái tháo đường týp 1 ĐTĐ týp 1 do tế bào β bị phá hủy nên bệnh nhân không còn hoặc còn rất ít insulin, 95% do cơ chế tự miễn (týp 1A), 5% vô căn (týp1B). Bệnh nhân bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên. Bệnh nhân cần insulin để ổn định glucose huyết.

Đái tháo đường týp 2 Bệnh nhân không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số bệnh nhân có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào β bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào β sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ týp 2 lâm sàng sẽ xuất hiện.1 Nguyên nhân ĐTĐ nguyên phát [5] Các nguyên nhân ĐTĐ týp 1 ĐTĐ týp 2 Tiền sử gia đình Kháng nguyên HLA-DR3, Đặc tính dân tộc Yếu tố nguy cơ HLA-DR4 Ăn nhiều, ít tập luyện thể dục Nhiễm độc Nhiễm virus Béo phì Yếu tố khởi phát Stress chuyển hóa Stress chuyển hóa Các tế bào tại đảo tụy thoái Phá đảo tụy theo cơ chế tự Yếu tố bệnh sinh hóa/suy yếu dẫn miễn Giảm receptor insulin 3 Đái tháo đường thai kỳ ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa thai kỳ hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ týp 1, týp 2 trước đó.

Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ Thể chuyên biệt của ĐTĐ hay ĐTĐ thứ phát do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô…[1]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bệnh ĐTĐ týp 2 1. Nguyên nhân Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường týp 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và môi trường. - Yếu tố di truyền.

- Yếu tố môi trường: đây là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là: + Sự thay đổi lối sống: như giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh bột, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng. + Chất lượng thực phẩm + Các stress - Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao: đây là yếu tố không thể can thiệp được. Cơ chế bệnh sinh bệnh ĐTĐ týp 2 - Hai yếu tố đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường typ 2 là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau [6].

- Tình trạng thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực, là những đặc điểm thường thấy ở người đái tháo đường týp 2 có kháng insulin. Tăng insulin máu, kháng insulin còn gặp ở người tiền đái tháo đường, tăng huyết áp vô căn, người mắc hội chứng chuyển hoá. Người đái tháo đường týp 2 bên cạnh kháng insulin còn có thiếu insulin- đặc biệt khi lượng glucose huyết tương khi đói trên 10,0 mmol/L [1]. Thừa cân, ít hoạt động thể lực là những yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ.

Rối loạn tiết insulin: Do rối loạn bài tiết insulin của tế bào β đảo tụy. Rối loạn tiết insulin bao gồm: rối loạn về nhịp tiết, động học insulin và rối loạn về số lượng tế bào β 4 tiết insulin, insulin không đủ để đảm bảo cho chuyển hóa glucose bình thường của cơ thể. Thiếu hụt insulin xảy ra sau một giai đoạn tăng insulin máu nhằm bù trừ cho tình trạng kháng insulin [6]. Đề kháng insulin: hình thức kháng insulin bao gồm: giảm khả năng ức chế sản xuất glucose ở gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan [6].

Chẩn đoán Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường týp 2 của Bộ Y tế năm 2020: tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường týp dựa vào một trong bốn tiêu chuẩn sau [1]: - Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 7 mmol/L. Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 - 14 giờ), hoặc: - Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 11,1 mmol/L. Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75 g glucose, hòa tan trong 250 - 300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.

- Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1mmol/L. Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm glucose chẩn đoán ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 7 mmol/L.

Nếu HbA1C được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1C 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ.1 Sơ đồ chẩn đoán đái tháo đường 1. Điều trị đái tháo đường týp 2 1. Nguyên tắc Điều trị đái tháo đường theo các nguyên tắc sau đây [1]: – Lập kế hoạch toàn diện, tổng thể, lấy người bệnh làm trung tâm, cá nhân hóa cho mỗi người mắc đái tháo đường, phát hiện và dự phòng sớm, tích cực các yếu tố nguy cơ, giảm các tai biến và biến cố. – Đánh giá tổng thể và quyết định điều trị dựa trên cơ sở: 6 Tình trạng sức khỏe chung, bệnh lý đi kèm, các chức năng trong hoạt động thường ngày, thói quen sinh hoạt, điều kiện kinh tế, xã hội, yếu tố tâm lý, tiên lượng sống, cá thể hóa mục tiêu điều trị.

Nguyên tắc sử dụng thuốc: can thiệp thay đổi lối sống ưu tiên hàng đầu, hạn chế tối đa lượng thuốc dùng, định kỳ kiểm tra tác dụng và tuân thủ thuốc cũ trước khi kê đơn mới, phác đồ phù hợp có thể tuân thủ tốt - tối ưu điều trị, khả thi với BN, có tính yếu tố chi phí và tính sẵn có. – Dịch vụ tư vấn dinh dưỡng, hoạt động thể lực, tự theo dõi, hỗ trợ điều trị nên được triển khai, sẵn sàng cung cấp, hỗ trợ cho bác sỹ điều trị, điều dưỡng, nhân viên y tế, người chăm sóc và BN. – Chất lượng chăm sóc, điều trị BN đái tháo đường cần được thường xuyên giám sát, lượng giá và hiệu chỉnh cho phù hợp 1-2 lần/năm – Các phương pháp điều trị tổng thể bao gồm một số các biện pháp sau: Tư vấn, hỗ trợ, can thiệp thay đổi lối sống: không hút thuốc, không uống rượu bia, chế độ ăn và hoạt động thể lực (áp dụng cho tất cả người bệnh, các giai đoạn). Tư vấn tuân thủ điều trị, kiểm soát cân nặng Thuốc uống hạ đường huyết Thuốc tiêm hạ đường huyết Kiểm soát tăng huyết áp Kiểm soát rối loạn lipid máu Chống đông Điều trị và kiểm soát biến chứng, bệnh đồng mắc.

Thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập. Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì số đo huyết áp hợp lý, phòng, chống các rối loạn đông máu. Khi cần phải dùng insulin (ví dụ trong các đợt cấp của bệnh mạn tính, bệnh nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư, phẫu thuật. Mục đích và mục tiêu điều trị đái tháo đường týp 2 Mục đích: Là nhằm làm giảm nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn, cải thiện các triệu chứng, giảm thiểu nguy cơ tử vong và cải thiện 7 chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường týp 2 của Bộ Y tế năm 2020, mục đích điều trị là [1]: - Duy trì lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau ăn gần như mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng, nhằm giảm các biến chứng có liên quan, giảm tỷ lệ tử vong do đái tháo đường. - Giảm cân nặng (với người béo) hoặc không tăng cân (với người không béo). Mục tiêu: Mục tiêu điều trị nhằm làm giảm nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn, cải thiện các triệu chứng, giảm thiểu nguy cơ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh [7]. - Mục tiêu về kiểm soát đường huyết Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2 của Bộ Y tế năm 2020 [1], mục tiêu điều trị trên bệnh nhân được thể hiện ở bảng 1.2 như sau: Bảng 1.2 Mục tiêu điều trị cho BN ĐTĐ ở người trưởng thành, không có thai Mục tiêu Chỉ số HbA1c < 7% (53mmol/mol) Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn 80-130 mg/dL (4,4-7,2 mmol/L)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 <180 mg/dL (10,0 mmol/L)* giờ Cần chú ý mục tiêu glucose huyết sau ăn (sau khi bắt đầu ăn 1-2 giờ) nếu đã đạt được mục tiêu glucose huyết lúc đói nhưng chưa đạt được mục tiêu HbA1c.

Mục tiêu đường huyết theo hướng dẫn của ADA 2020 và bản cập nhật ADA 2023 không thay đổi so với hướng dẫn của BYT 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ