Luận văn: Kế toán thuế GTGT tại Công ty Cổ phần NASACO - Lê Thị Quý

Nghiên cứu chi tiết thực trạng thuế và kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco. Tổng hợp quy trình kê khai, hạch toán và giải pháp hoàn thiện hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp
60
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thuế và kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco

Công ty Cổ phần Nasaco hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực phân phối thiết bị lọc nước và xử lý nước tinh khiết. Doanh nghiệp nhập khẩu và cung ứng máy lọc nước RO gia đình, dây chuyền lọc công nghiệp và hệ thống đun nước nóng lạnh. Thuế giá trị gia tăng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính của công ty. Đây là loại thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa qua từng giai đoạn lưu thông. Công ty áp dụng phương pháp khấu trừ thuế để xác định nghĩa vụ ngân sách nhà nước. Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm theo dõi toàn bộ hóa đơn đầu vào và đầu ra. Mỗi giao dịch mua bán vật tư, thiết bị màng RO hay cước vận chuyển đều cần hóa đơn hợp lệ. Việc tổ chức công tác kế toán thuế chuẩn xác giúp Nasaco minh bạch dòng tiền kinh doanh. Quy trình kế toán bao gồm đăng ký, lập chứng từ, ghi sổ và lập tờ khai định kỳ. Kế toán thuế GTGT không chỉ bảo đảm tính tuân thủ pháp lý mà còn hỗ trợ ban giám đốc đưa ra các quyết định điều hành tối ưu.

1.1. Đặc điểm kinh doanh và tổ chức bộ máy tại Nasaco

Công ty Cổ phần Nasaco có trụ sở tại Đống Đa, Hà Nội. Doanh nghiệp chuyên nhập khẩu và phân phối độc quyền thương hiệu thiết bị xử lý nước Nasaco. Mặt hàng kinh doanh chủ lực bao gồm linh kiện lọc nước, màng lọc RO và máy đun nóng lạnh. Cơ cấu tổ chức của công ty tinh gọn với ban giám đốc trực tiếp chỉ đạo các phòng ban chức năng. Phòng kế toán gồm kế toán trưởng và các nhân viên kế toán phần hành chuyên trách. Bộ máy kế toán thực hiện song song việc hạch toán kinh doanh nội bộ và báo cáo thuế nhà nước. Mọi nghiệp vụ mua bán hàng hóa đều gắn liền với việc lập hóa đơn và xác định thuế suất GTGT 10%. Mô hình tổ chức này giúp thông tin tài chính lưu chuyển nhanh và minh bạch.

1.2. Nguyên tắc và phương pháp tính thuế GTGT áp dụng

Công ty CP Nasaco áp dụng phương pháp tính thuế GTGT khấu trừ. Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn GTGT tiêu chuẩn cho hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ kỹ thuật. Thuế GTGT đầu vào phát sinh khi mua nguyên vật liệu, màng RO, linh kiện và thuê vận chuyển. Thuế GTGT đầu ra được ghi nhận trên hóa đơn xuất bán thiết bị cho khách hàng. Số thuế phải nộp bằng thuế đầu ra trừ đi thuế đầu vào hợp pháp được khấu trừ. Kế toán sử dụng tài khoản 133 theo dõi thuế đầu vào và tài khoản 3331 phản ánh thuế đầu ra. Mọi nghiệp vụ phát sinh đều được đối chiếu chặt chẽ với chứng từ ngân hàng để bảo đảm đủ điều kiện khấu trừ.

II. Thực trạng thuế và kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco

Thực tế thực hiện kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco phản ánh quy trình làm việc tương đối nền nếp. Phòng kế toán phân loại chứng từ mua vào và bán ra theo từng tháng rõ ràng. Các hóa đơn mua màng lọc RO, tháp xử lý nước hay cước điện thoại đều được lưu trữ cẩn thận. Tuy nhiên, công tác kế toán thuế tại doanh nghiệp vẫn bộc lộ một số tồn tại đáng chú ý. Việc phân loại chi tiết thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ đôi khi chưa dứt khoát. Một số chi phí tiếp khách hoặc mua hàng nhỏ lẻ thiếu chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt hợp chuẩn. Kế toán chủ yếu ghi chép trên tài khoản cấp 1 mà chưa mở đầy đủ các sổ chi tiết theo từng đối tượng nhà cung cấp. Thời điểm tập hợp chứng từ cuối kỳ thường dồn ứ gây áp lực lên khâu lập tờ khai thuế. Điều này tiềm ẩn nguy cơ sai lệch số liệu kê khai thuế GTGT hàng tháng. Sự phối hợp giữa bộ phận kho vận và bộ phận kế toán có lúc chưa đồng bộ.

2.1. Quy trình luân chuyển chứng từ và hạch toán sổ sách

Quy trình xử lý chứng từ thuế GTGT tại Nasaco khởi đầu từ các phòng kinh doanh và mua hàng. Khi phát sinh nghiệp vụ mua vật tư máy lọc nước, nhân viên chuyển hóa đơn kèm phiếu nhập kho về phòng kế toán. Kế toán viên kiểm tra tính pháp lý của hóa đơn rồi ghi sổ nhật ký chung và sổ cái tài khoản 133. Đối với hàng hóa bán ra, hóa đơn GTGT được xuất trực tiếp khi xuất kho giao hàng cho đại lý hoặc khách hàng dự án. Kế toán phản ánh doanh thu vào tài khoản 511 và thuế đầu ra vào tài khoản 3331. Tuy nhiên, việc luân chuyển chứng từ từ các chi nhánh và dự án về văn phòng trung tâm đôi khi bị chậm trễ.

2.2. Những tồn tại trong kê khai và quyết toán thuế GTGT

Công tác kê khai và quyết toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco còn gặp một số hạn chế cụ thể. Doanh nghiệp chưa mở sổ chi tiết để theo dõi thuế GTGT theo từng nhóm hàng hóa nhập khẩu và nội địa. Các chứng từ hóa đơn dịch vụ vận chuyển và cước viễn thông thỉnh thoảng bị kê khai sót trong kỳ phát sinh. Việc đối chiếu giữa tờ khai thuế GTGT hàng tháng với số liệu trên sổ cái tài khoản 133 và 3331 chưa được thực hiện định kỳ thường xuyên. Nhân sự kế toán kiêm nhiệm nhiều khâu khiến việc rà soát điều kiện thanh toán qua ngân hàng đối với hóa đơn trên 20 triệu đồng đôi khi thiếu sót. Những điểm yếu này làm tăng rủi ro bị cơ quan thuế truy thu hoặc phạt vi phạm hành chính.

III. Giải pháp về thuế và kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco

Để nâng cao hiệu quả tài chính và giảm thiểu rủi ro, Công ty CP Nasaco cần triển khai đồng bộ các giải pháp kế toán thuế. Doanh nghiệp cần hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán thuế GTGT đầu vào và đầu ra ngay từ khâu tiếp nhận. Mọi giao dịch kinh doanh phải đi kèm hóa đơn điện tử hợp lệ và chứng từ thanh toán ngân hàng minh bạch. Công ty nên mở rộng hệ thống sổ kế toán chi tiết cho tài khoản 133 và tài khoản 3331. Việc phân cấp tài khoản giúp theo dõi rành mạch thuế suất của từng dòng sản phẩm máy lọc nước. Bên cạnh đó, Nasaco cần ứng dụng phần mềm kế toán hiện đại để tự động hóa khâu lập tờ khai thuế. Nhân viên kế toán phải liên tục cập nhật các thông tư, nghị định mới về chính sách thuế GTGT. Sự phối hợp giữa phòng kế toán và các bộ phận bán hàng, kho vận cần được quy chuẩn hóa bằng văn bản. Quy trình này sẽ ngăn chặn sai sót và bảo đảm tối đa quyền lợi khấu trừ thuế.

3.1. Hoàn thiện hệ thống chứng từ và tổ chức sổ sách kế toán

Nasaco cần chuẩn hóa toàn diện quy trình kiểm tra chứng từ đầu vào trước khi tiến hành hạch toán. Kế toán viên phải đối chiếu chặt chẽ hóa đơn mua hàng với phiếu nhập kho và hợp đồng kinh tế. Doanh nghiệp cần mở các sổ chi tiết tài khoản 13311 cho hàng hóa trong nước và 13312 cho linh kiện nhập khẩu. Đối với tài khoản 3331, công ty cần chi tiết hóa số thuế phát sinh theo từng kênh phân phối đại lý và bán lẻ. Việc này giúp kiểm soát chính xác nghĩa vụ thuế và phục vụ công tác thanh tra thuế nhanh chóng. Ngoài ra, việc thiết lập lịch lưu trữ chứng từ khoa học sẽ tránh thất lạc hóa đơn gốc.

3.2. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và đào tạo nhân lực kế toán

Ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp then chốt nâng cao chất lượng kế toán thuế tại Nasaco. Công ty nên nâng cấp phần mềm kế toán tích hợp trực tiếp với hệ thống hóa đơn điện tử. Tính năng này giúp tự động đồng bộ dữ liệu mua bán, giảm thiểu lỗi nhập liệu thủ công. Phần mềm cũng hỗ trợ trích xuất dữ liệu lập tờ khai thuế GTGT định kỳ một cách chính xác tuyệt đối. Song song với công nghệ, ban lãnh đạo cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ kế toán. Các khóa tập huấn định kỳ về luật quản lý thuế sẽ giúp nhân viên nắm vững quy định mới. Sự am hiểu chính sách giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác quyết toán thuế cuối năm.

IV. Kết luận về thuế và kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco

Tổ chức công tác thuế và kế toán thuế GTGT là nhiệm vụ trọng tâm trong quản trị tài chính tại Công ty CP Nasaco. Việc thực hiện đúng quy định pháp luật thuế giúp công ty khẳng định uy tín trên thị trường thiết bị lọc nước. Hoàn thiện hạch toán thuế GTGT bảo đảm việc ghi nhận doanh thu và chi phí luôn chuẩn xác. Doanh nghiệp vừa tối ưu hóa được số thuế phải nộp, vừa bảo vệ tối đa dòng vốn lưu động phục vụ kinh doanh. Những bài học thực tiễn tại Nasaco mang lại giá trị ứng dụng cao cho các doanh nghiệp thương mại cùng ngành. Sự phối hợp đồng bộ giữa chứng từ, sổ sách và phần mềm kế toán tạo nên hệ thống kiểm soát nội bộ vững chắc. Việc tuân thủ kỷ luật tài chính giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro pháp lý và tranh chấp thuế. Áp dụng hiệu quả các kiến nghị cải tiến sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của Nasaco trong tương lai.

4.1. Tầm quan trọng của tuân thủ thuế đối với sự phát triển doanh nghiệp

Tuân thủ chính sách thuế GTGT là yếu tố sống còn bảo đảm an toàn pháp lý cho Công ty CP Nasaco. Việc chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ nộp thuế tạo dựng uy tín vững chắc trước các cơ quan quản lý nhà nước và ngân hàng. Doanh nghiệp tránh được các khoản tiền phạt vi phạm và tiền chậm nộp thuế không đáng có. Bên cạnh đó, số liệu kế toán thuế chuẩn xác phản ánh trung thực kết quả kinh doanh định kỳ. Ban điều hành có căn cứ tin cậy để hoạch định chiến lược giá bán và phân phối sản phẩm lọc nước trên toàn quốc. Minh bạch thuế là chìa khóa thu hút đối tác đầu tư và mở rộng thị phần kinh doanh.

4.2. Khả năng ứng dụng mô hình kế toán thuế cho doanh nghiệp thương mại

Mô hình kế toán thuế GTGT tại Công ty CP Nasaco mang tính thực tiễn cao đối với các doanh nghiệp thương mại kỹ thuật. Bài học về kiểm soát chứng từ đầu vào khi mua hàng hóa, thiết bị giúp ngăn ngừa tình trạng trốn thuế hoặc thất lạc chi phí. Quy trình đối chiếu định kỳ giữa tài khoản 133, 3331 và tờ khai thuế hàng tháng là chuẩn mực cần nhân rộng. Các doanh nghiệp trong ngành xử lý nước có thể học hỏi cách tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ nhưng hiệu quả của Nasaco. Việc chuẩn hóa chứng từ thanh toán ngân hàng bảo đảm tối ưu hóa quyền khấu trừ thuế đầu vào cho doanh nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/06/2026
Thuế và kế toán thuế gtgt tại công ty cp nasaco

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT Sau 36 năm kể từ khi lý thuyết về thuế GTGT được nhà kinh tế học người Đức đề xuất năm 1918, vào năm 1954, Pháp là nước đầu tiên trên thế giới áp dụng luật thuế GTGT. Qua nghiên cứu, lý thuyết về thuế GTGT ngày càng được hoàn thiện và lần lượt được đưa vào áp dụng.

Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đến 6 tháng đầu năm 2000 đã có khoảng 124/210 quốc gia áp dụng luật thuế GTGT. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của hệ thống thuế, luật thuế GTGT đã chính thức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế cho luật thuế doanh thu. Sau một thời gian thi hành, đến nay Luật thuế GTGT đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung và lần sửa đổi gần đây nhất có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. Khái niệm GTGT là giá trị tăng thêm của một sản phẩm, hàng hóa dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, thương mại hoặc dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh) tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hóa, dịch vụ mua vào làm cho giá trị của chúng tăng thêm.

Nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào do cơ sở kinh doanh tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hay đó là phần giá trị tăng thêm của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phát triển trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Từ khái niệm về GTGT, chúng ta có thể có khái niệm về thuế GTGT như sau: Thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông SV Lê Thị Quý MSV: 5TD2978 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đến tiêu dùng. Tổng số thuế tính được ở các khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.

Đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu đánh vào thu nhập của người tiêu dùng. Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT có tính lãnh thổ, chỉ áp dụng cho người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng thu qua nhiều giai đoạn nhưng không trùng lặp vì chỉ tính thuế trên phần tăng thêm của mỗi giai đoạn.

Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao, vì thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí sản xuất, thuế GTGT là yếu tố cấu thành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ, nên nó không bị ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa thuế GTGT với thuế doanh thu Thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế tính được ở các khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng. Thuế doanh thu là một loại thuế thu vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Thuế doanh thu mang tính chất của một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng và ngân sách Nhà nước. - Giống nhau: Thuế GTGT và thuế doanh thu đều thuộc loại thuế gián thu- thuế đánh vào người tiêu dùng hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ, thuế này do người sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nộp cho ngân sách Nhà nước nhưng thực chất người tiêu dùng là người chịu thuế, nhà doanh nghiệp đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước, họ đã cộng số thuế gián thu phải nộp vào giá bán sản phẩm hoặc dịch vụ để người tiêu dùng trả nên họ phải nộp đầy đủ số thuế thu hộ này vào ngân sách Nhà nước. SV Lê Thị Quý MSV: 5TD2978 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội - Khác nhau: Thuế GTGT Thuế doanh thu + Tính trên phần giá trị tăng thêm của + Tính trên toàn bộ doanh thu của sản sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ ở từng phẩm, hàng hóa, dịch vụ qua mỗi lần khâu. luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

+ Có khấu trừ thuế ở các giai đoạn + Không khấu trừ thuế ở các giai đoạn trước. + Thu thuế đối với từng sản phẩm, + Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ càng qua hàng hóa, dịch vụ không phụ thuộc nhiều công đoạn sản xuất, lưu thông thì vào sự tổ chức và phân chia các chu thuế mà người tiêu dùng chịu càng cao. trình kinh tế. + Có ít suất thuế hơn thuế doanh thu + Nhiều suất thuế hơn thuế GTGT nên nên việc thực hiện đơn giản hơn.

việc thực hiện phức tạp hơn 1. Sự cần thiết phải ban hành luật thuế GTGT. * Thuế GTGT ra đời thay thế thuế doanh thu là một nhu cầu tất yếu đối với nền kinh tế khi cơ cấu chính sách thuế cũ không còn đáp ứng được nhu cầu trong tình hình mới vì: Thuế doanh thu không đáp ứng được yêu cầu thu và quản lý do có nhiều bất hợp lý ( trùng lặp, thuế thu trên thuế, có nhiều mức thuế suất (11 mức)) Do quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu cầu mở rộng lưu thông hàng hóa giữa các nước đòi hỏi bãi bỏ, giảm thuế ở cửa khẩu đối với xuất nhập khẩu hàng hóa, nó giúp kích thích các ngành sản xuất dịch vụ trong nước, khuyến khích xuất khẩu các tiềm lực quốc gia và góp phần thúc đẩy các mặt hàng thiết yếu. * Thuế GTGT ra đời trước hết để đáp ứng tình hình mới, sau một thời gian được áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT được đại đa số các nước trên thế giới thừa nhận về những ưu điểm nổi bật của nó ở các mặt sau: SV Lê Thị Quý MSV: 5TD2978 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Với điều kiện số lượng đối tượng được miễn hạn chế và sự vận dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, thuế GTGT là một thứ thuế trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào.

Điều này thể hiện tính ưu việt của thuế GTGT so với các loại thuế được nó thay thế. Thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng và được áp dụng rộng rãi, có phạm vi tính thuế rất rộng nên có thể nói đây chính là nguồn thu chủ yếu và ổn định cho NSNN. Thuế GTGT có thể khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là không thu trùng lặp thuế nên có tác động tích cực giảm chi phí kinh doanh và hạ giá thành đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa ra nước ngoài, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.

Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ góp phần bảo hộ sự công bằng giữa doanh nghiệp khi kinh doanh hàng nhập khẩu và doanh nghiệp trong nước đối với hàng hóa sản xuất trong nước. Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hóa. Thuế GTGT còn góp phần cớ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hướng xuất khẩu. Thuế GTGT thúc đẩy việc kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước, hạn chế hiện tượng chốn thuế, lậu thuế, tạo ra môi trường kiểm soát lẫn nhau về thuê giữa các đơn vị có liên quan trong cung ứng hàng hóa.

Thuế GTGT cho phép người nộp thuế có quyền tự kiểm tra, tự kê khai, tự nộp thuế,….dựa trên các hóa đơn hợp pháp, hợp lệ nên nâng cao được tính từ giác, từ nguyện trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Đồng thời khuyến khích việc thực hiện đúng và đầy đủ chế độ sổ sách, chế độ kế toán, chế độ hóa đơn. Nội dung cơ bản của thuế GTGT ở Việt Nam  Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT ( có 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế ) SV Lê Thị Quý MSV: 5TD2978 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội  Đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.  Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.

* Giá tính thuế: Là căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp, là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ. Giá tính thuế GTGT được quy định như sau: - Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT. - Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu, cộng với thuế nhập khẩu. - Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.

- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ. - Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hoá, tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ. - Đối với gia công hàng hoá là giá gia công. - Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là do Chính phủ quy định.

* Thuế suất: Theo luật thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam có 03 mức thuế suất thuế GTGT khác nhau: 0%, 5%, 10% được áp dụng thống nhất theo từng loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu sản xuất kinh doanh trong nước hay nhập khẩu. - Mức thuế suất 0%: Áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, kể cả hàng hóa gia công xuất khẩu. - Mức thuế suất 5%: Áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cần khuyến khích, hoặc sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ