phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án bao gồm bốn chƣơng chính: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận v Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn khu vực Tây Nam Bộ và các yếu tố tác động. Chƣơng 4: Nhu cầu chuyển đổi việc làm của thanh niên nông thôn khu vực Tây Nam Bộ và các yếu tố tác động. Nhƣ vậy, kết cấu của luận án đƣợc thực hiện theo một trình tự logic, bắt đầu từ việc đánh giá tổng quan các nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc về chủ đề liên quan.
Sau đó dựa v o cơ sở lý luận để triển khai nghiên cứu, rồi mô tả, phân tích và giải thích sự vận hành của đối tƣợng nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi và giải quyết vấn đề đặt ra trong nghiên cứu này. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Vấn đề thanh niên v lao động, việc l m đ đƣợc nghiên cứu khá nhiều ở các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển. Giáo dục, đ o tạo và phát triển thanh niên đƣợc quy tụ trong nhân tố con ngƣời, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển, hƣng thịnh của nhiều quốc gia trên thế giới.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu nhu cầu của con ngƣời v đặc biệt là nhu cầu việc làm có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hoạch định chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực. Các ấn phẩm nƣớc ngo i liên quan đến hƣớng nghiên cứu này rất phong phú, bao gồm cả các nghiên cứu sâu về nhân lực và nhân lực chất lƣợng cao, nhu cầu nguồn nhân lực, lao động và việc l m… Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài về chủ đề nghiên cứu nhằm giúp cho tác giả hiểu sâu sắc hơn về những vấn đề lý luận, phƣơng pháp luận nghiên cứu và tiếp thu đuợc những kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu về thanh niên, lao động, việc làm, tìm hiểu nhu cầu chuyển đổi việc làm và giải quyết tốt những vấn đề liên quan đến việc làm của lao động thanh niên để vận dụng tiếp cận trong việc nghiên cứu đề t i “Thực trạng việc làm và nhu cầu chuyển đổi việc làm của thanh niên nông thôn khu vực Tây Nam Bộ”. Nghiên cứu lí luận về vấn đề nhu cầu đ đƣợc đề cập đến từ rất lâu và còn có nhiều những quan niệm về khái niệm nhu cầu theo những góc nhìn khác nhau. Theo các nhà tâm lý học, nhu cầu là một trạng thái tâm lý tƣơng đối bền vững của cá nhân, đƣợc đặc trƣng bằng sự ham thích các vật và hiện tƣợng đƣợc thể nghiệm nhƣ l điều kiện cần thiết của sự tồn tại của cá nhân [22].
Về mặt kinh tế học, một số ngƣời đ định nghĩa giống Marx rằng “nhu cầu là khả năng tiêu thụ”, một số khác lại coi “nhu cầu là quan hệ kinh tế giữa ngƣời với ngƣời, do việc sử dụng các lợi ích vật chất v văn hóa m lao động 11 tạo ra nhằm thỏa mãn những yêu cầu của cá nhân và xã hội để đảm bảo phát triển sản xuất vật chất và hoạt động sống của con ngƣời trong xã hội [22]. Theo Abraham Maslow, nhu cầu là một phần quan trọng tất yếu trong bản thân của mỗi con ngƣời. Mọi giá trị, niềm tin và tập tục của con ngƣời là khác biệt tùy theo từng quốc gia hay từng nhóm ngƣời tuy nhiên tất cả mọi ngƣời sẽ đều có những nhu cầu chung giống nhau. Lý thuyết nhu cầu của ông đ chỉ ra rằng nhu cầu của con ngƣời có những mức độ khác nhau, đƣợc sắp xếp thành 5 nhóm từ thấp đến cao trong tháp nhu cầu và những nhu cầu ở phía dƣới của tháp cần đƣợc đáp ứng trƣớc những nhu cầu ở mức cao hơn (bao gồm: 1- Nhu cầu cơ bản; 2- Nhu cầu về an toàn, an ninh; 3- Nhu cầu về xã hội; 4- Nhu cầu về đƣợc quý trọng; 5- Nhu cầu đƣợc thể hiện mình).
Trong nghiên cứu về “Mối tƣơng quan giữa định hƣớng xã hội với định hƣớng nghề nghiệp” của Pilippov P. (1975) thì việc định hƣớng nghề nghiệp của thanh niên, trƣớc hết là của những học sinh các trƣờng phổ thông, là một trong những nhiệm vụ trung tâm đặt ra cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Tầm quan trọng của nhiệm vụ đó đ đƣợc nhấn mạnh trong các nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 24. Các biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ n y đ đƣợc vạch rõ trong Nghị quyết của Ban Châp h nh Trung ƣơng Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trƣởng Liên Xô về việc “ho n th nh công cuộc chuyển sang nền giáo dục trung học phổ thông đối với thanh niên và phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông (tháng 6 năm 1972).
“Các nguyên tắc pháp luật của Liên Xô v các nƣớc cộng hòa liên Bang về giáo dục quốc dân” (điều 19) do Xô Viết tối cao thông qua trong các kỳ họp thứ 6 (phiên họp thứ 8) đ ghi rõ rằng việc đ o tạo học sinh nhằm đƣa họ “đến việc tích cực tham gia hoạt động lao động và hoạt động xã hội, đến việc tự giác lựa chọn nghề nghiệp”…. Trong công trình n y, tác giả đ nghiên cứu hiện tƣợng định hƣớng xã hội tập trung vào nội dung chính là sự nhận thức của thanh niên đối với chỗ đứng của mình trong cơ cấu xã hội, việc lựa 12 chọn vị trí xã hội tƣơng lai của mình, các biện pháp để thực hiện sự lựa chọn ấy và những việc thay đổi có thể có về sau [26]. Trong công trình nghiên cứu “Mô hình hóa nhu cầu đối với lao động kỹ năng thấp/giá rẻ: Khám phá việc cắt giảm việc làm của một Mức lương sống” (Modelling demand for low skill/low paid labor: Exploring the employment trade-offs of aliving wage), tác giả Rebecca Riley (2013) đ phân tích nhu cầu lao động kỹ năng thấp, lao động giá rẻ để tìm hiểu những việc l m liên quan đến việc chuyển sang Mức lƣơng sống. Sử dụng dữ liệu bảng ngành công nghiệp, tác giả đ phân loại mô hình nhu cầu lao động thành 5 nhóm đƣợc xác định theo độ tuổi v trình độ học vấn cao nhất.
Mức lƣơng thấp là phổ biến trong nhóm kỹ năng thấp và trẻ. Trong số 11 nhóm ngành công nghiệp thị trƣờng đ xem xét, có 3 nhóm ngành sẽ đối mặt với sự tăng lƣơng lớn nhất để đạt Mức lƣơng sống là: (1) Bán buôn và Bán lẻ, Khách sạn và Dịch vụ ăn uống; (2) Các dịch vụ cộng đồng, xã hội và cá nhân khác; (3) Các ngành công nghiệp sản xuất kỹ năng thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có điều kiện về mức độ đầu ra và nỗ lực của ngƣời lao động, những chi phí tăng n y sẽ làm giảm nhu cầu của ngƣời sử dụng lao động trẻ có tay nghề thấp trong khu vực tƣ nhân khoảng 300. Phân tích nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cho phép thay thế lao động trong việc xem xét các tác động nhu cầu việc làm của những thay đổi ngoại sinh về tiền lƣơng.
V tổng giảm nhu cầu lao động có điều kiện với Mức lƣơng sống là khoảng 160.000; đây l khoảng một nửa sự giảm nhu cầu về nhân viên trẻ có tay nghề thấp vì ngƣời sử dụng lao động thay thế trẻ hơn với nhiều công nhân có kinh nghiệm hơn. Số lƣợng nhân viên sẽ thấy thu nhập của họ tăng lên với Mức lƣơng sống vƣợt xa mức giảm ƣớc tính về nhu cầu lao động [102]. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu “Làm thế nào để kết hợp việc nhập cảnh của những người trẻ tuổi trong thị trường lao động với việc duy trì công nhân lớn tuổi hơn?” (How to Combine the Entry of Young People in the Labour 13 Market with the Retention of Older Workers?), tác giả Werner Eichhorst (2013) đ cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình việc làm của các công nhân trẻ và già ở các nƣớc th nh viên EU, đƣa ra sự phát triển gần đây nhất trong cuộc khủng hoảng v đối phó với các chính sách thực hiện để thúc đẩy việc làm của cả hai nhóm. Bằng chứng thu thập cho thấy rằng không có sự cạnh tranh giữa công nhân trẻ v ngƣời già trên thị trƣờng lao động.
Các chính sách cơ bản hoặc chung để tăng cƣờng hoạt động của thị trƣờng lao động EU là rất quan trọng để cải thiện tình hình của cả hai nhóm. Tuy nhiên, trách nhiệm về chính sách việc làm vẫn chủ yếu nằm trong các nƣớc thành viên của Liên minh châu Âu, mặc dù các sáng kiến ở cấp EU có thể cung cấp giá trị gia tăng, đặc biệt thông qua việc kích thích trao đổi kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực và xuyên biên giới [104]. Công trình nghiên cứu “Nâng cao kỹ năng: Nhu cầu lao động có kỹ năng cao khi nguồn lao động dồi d o?” (Upskilling: Do employers demand greater skill when workers plentiful?) của Alicia Sasser Modestino và cộng sự đ chỉ ra rằng: Trong sự phục hồi của cuộc Đại suy thoái ở Hoa Kỳ, các nhà hoạch định chính sách và các học giả đ b y tỏ lo ngại về các yêu cầu kỹ năng của nhà tuyển dụng gia tăng. Sử dụng một cơ sở dữ liệu lớn về đăng tuyển dụng trực tuyến cho nghề nghiệp trung cấp, các tác giả đ chứng minh rằng ngƣời sử dụng lao động có cơ hội nâng cao yêu cầu về kinh nghiệm và giáo dục, trong ngành nghề, để đáp ứng với việc tăng nguồn cung ứng ngƣời tìm việc có liên quan.
Mối quan hệ này là mạnh mẽ đối với nhiều thử nghiệm cho các yếu tố có khả năng gây nhiễu, hiện diện ngay cả trong các cặp tiêu đề công việc, và phù hợp với các dự đoán của một mô hình tìm kiếm nhà tuyển dụng tiêu chuẩn. Họ tiếp tục xác định hiệu ứng này bằng cách khai thác thí nghiệm tự nhiên phát sinh từ việc rút quân tại Iraq v Afghanistan nhƣ một cú sốc ngoại sinh đối với nguồn cung lao động địa phƣơng, nghề nghiệp cụ thể. Kết quả nghiên cứu ngụ ý rằng số lƣợng ngƣời tìm kiếm việc l m tăng lên có 14 thể chiếm khoảng 30% tổng số yêu cầu kỹ năng sử dụng lao động đƣợc quan sát từ năm 2007 đến năm 2010. V từ năm 2007 đến năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp tăng 6,4 điểm phần trăm đối với lao động ngo i đại học, tƣơng ứng với mức tăng 2,3 điểm phần trăm đối với lao động có trình độ đại học.