Chương 1: Những vấn đề lý luận về viễn thông và pháp luật về viễn thông. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về viễn thông ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật pháp luật về viễn thông ở Việt Nam. 6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Với vị thế là một trong những thị trường viễn thông có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới trong suốt những năm qua, Việt Nam được đánh giá là nước có hạ tầng mạng lưới viễn thông, Internet phát triển hiện đại, bao trùm rộng khắp, băng rộng, tốc độ cao và hoạt động ổn định 1. Chỉ số phát triển hạ tầng viễn thông của Việt Nam trong năm 2020 đã tăng 29 bậc từ vị trí 100 lên vị trí 69 trên thế giới2. Cùng với CNTT, ngành viễn thông đóng góp phần lớn vào doanh thu toàn ngành TTTT cũng như góp phần tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Quá trình hội nhập, toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh của công nghệ đã tác động mạnh đến sự phát triển của thị trường viễn thông.
Tuy nhiên sau hơn 10 năm thực hiện Luật Viễn thông, hệ thống pháp luật về viễn thông bên cạnh việc tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động viễn thông, mang lại rất nhiều lợi ích về mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, cũng đã cho thấy còn tồn tại vướng mắc, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung. Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực viễn thông với mục tiêu không chỉ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính, tăng cường chất lượng đối với hệ thống pháp luật nói chung mà còn thúc đẩy cả ngành viễn thông phát triển theo kịp xu hướng chung của thế giới đồng thời đảm bảo phát triển bền vững kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị. Hoàn thiện pháp luật viễn thông trên cơ sở bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành và thi hành các cam kết 1 Vietnam Business Monitor, Viện nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, Trung tâm phân tích và dữ liệu thông tin kinh tế, Báo cáo về: “Những thương hiệu ngành Viễn thông uy tín đạt được sự hài lòng của khách hàng”, p.vn/upload/17604/20180118/BaO_CaO_NGaNH_VIeN_THoNG__1_.pdf 2 Liên hợp quốc, Báo cáo phát triển chính phủ điện tử, Công bố Tháng 7 năm 2020 7 về viễn thông trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và đang đàm phán hoặc ký kết. Với những kỳ vọng như vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông là rất cần thiết.
Thời gian qua, một số công trình khoa học bao gồm: sách chuyên khảo, đề tài, luận văn, luận án, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học đã được công bố và có những nghiên cứu, đánh giá về viễn thông nói chung, hay pháp luật viễn thông và từng vấn đề cụ thể xoay quanh các nội dung của pháp luật viễn thông nói riêng. Các nghiên cứu lý luận về viễn thông Ở nước ta, các nghiên cứu lý luận về viễn thông, quản lý nhà nước về viễn thông và pháp luật về viễn thông còn khá ít; nội dung nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước về viễn thông và pháp luật về viễn thông khá đơn giản, có thể đề cập đến một số công trình sau đây: Luận án tiến sĩ của Trần Đăng Khoa (2007), Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020, Luận án nghiên cứu các vấn đề về khái niệm, lịch sử phát triển ngành viễn thông, vai trò của viễn thông trong nền kinh tế tại Việt Nam. Trong đó, tác giả đã phân tích khái niệm viễn thông của Pete Moulton, khái niệm của WTO, theo đó: “Viễn thông là tất cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác”. Thông qua đó, tác giả luận án cũng đã xác định viễn thông theo nghĩa rộng bao gồm hoạt động sản xuất thiết bị viễn thông, hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông (dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng) và hoạt động cung cấp dịch vụ Internet.
- Lê Minh Toàn (2012), Quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Các nội dung về cơ quan 8 quản lý, về quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, CNTT, tần số vô tuyến điện, Internet, thanh tra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông được cuốn sách đề cập đến. Ở phần 1 của cuốn sách, tác giả đi sâu phân tích các khái niệm về kinh doanh dịch vụ viễn thông, kinh doanh hàng hoá viễn thông và về hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông, cung cấp cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển ngành thông tin và truyền thông. Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài, các học giả đã nghiên cứu lý luận liên quan đến viễn thông từ nhiều góc nhìn khác nhau, nhưng chủ yếu là từ phương diện kinh tế và quản lý nhà nước, cụ thể: - Nawrot, J.
(2009), Regulation of Telecommunications Markets: Conference report (Các quy định pháp luật liên quan đến thị trường viễn thông: báo cáo hội thảo), Yearbook of Antitrust and regulation studies, 2, 282-286. Vào ngày 23/4/2008, Trung tâm chống độc quyền và nghiên cứu pháp luật (CSAiR) đã tổ chức Hội thảo mang tên “Các quy định pháp luật về thị trường Viễn thông” tại Khoa Quản lý thuộc Đại học Warsaw. Hội thảo với sự chủ trì của Giáo sư Tadeusz Skoczny, giám đốc Trung tâm và Giáo sư Stanislaw Piatek, Trưởng khoa Hành chính và vấn đề pháp lý liên quan đến lĩnh vực Quản lý. Mục tiêu của Hội thảo là phân tích các vấn đề hiện tại liên quan đến quy định của ngành viễn thông ở Ba Lan.
Hội thảo được chia làm 2 phần. Phần 1 được điều hành bởi Giáo sư Marek Weirzbowski, thuộc Khoa Luật và Hành chính của Đại học Warsaw. Ở phần 1, 04 bài tham luận được trình bày, các bài tham luận tập trung vào vấn đề liên quan đến đánh giá tính cạnh tranh trên thị trường viễn thông Ba Lan liên quan đến các chính trách của nhà nước áp dụng cho các công ty hiện đang nắm giữ vị trí quan trọng trên thị trường và về các vấn đề thủ tục liên quan đến quy định thị trường. Phần thứ hai, do Giáo sư Stanislaw Piqtek chủ trì, phần này dành riêng cho thảo luận liên quan đến tác động của việc quản lý thị trường viễn thông bằng pháp luật.
Nhiều đại diện 9 được mời là đại diện của ngành viễn thông và các chuyên gia độc lập tham gia vào cuộc thảo luận này. - Peter Cowhey and Mikhail M. Klimenko (2002), The WTO agreement and Telecommunication policy reforms, University of California. Theo tác giả, cuộc cách mạng công nghệ, những thay đổi trong cơ cấu cạnh tranh của nền kinh tế thế giới và nhu cầu về tài chính đã khiến nhiều quốc gia thay đổi chính sách của họ cho ngành công nghiệp viễn thông trong 15 năm qua.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và chuyển đổi nền kinh tế, mỗi quốc gia lựa chọn cách tiếp cận khác nhau để tự do hóa dịch vụ. Cuốn sách đi sâu vào bình luận nhiều nội dung cơ bản của hợp đồng, thương quyền và giấy phép, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp… liên quan đến hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông. (2008), Investment and Regulation in Telecomunication (Đầu tư và những quy định pháp luật trong lĩnh vực viễn thông), Yearbook of Antitrust and Regulatory Studies, 1, 109-130. Tác giả bài báo trình bày những khó khăn song hành cùng quá trình thực thi các chính sách pháp luật với mục tiêu thúc đẩy đầu tư và đổi mới trong lĩnh vực viễn thông ở Liên minh Châu Âu.
Trên cơ sở phân tích một số những khái niệm thường xuyên được đề cập trong lĩnh vực viễn thông hiện nay như: khái niệm về thị trường mới nổi, khái niệm về nấc thang đầu tư3, điều khoản hoàng hôn và chính sách làm giá linh động, tác giả cho rằng hiện nay hầu hết những khái niệm này chưa thực sự có những tác động rõ ràng đến các quy định pháp luật hiện hành, vì những quy định viễn thông hiện hành chủ yếu hướng đến việc cạnh tranh dịch vụ và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có. Thực tế này là kết quả của việc cân bằng các mục tiêu điều tiết khác nhau trên cơ sở trình độ kỹ thuật hiện có và môi 3 Khái niệm này được đề xuất bởi Martin Cave (2006) và đã được chấp nhận rộng rãi bởi các cơ quan quản lý quốc gia trong lĩnh vực viễn thông ở Châu Âu. 10 trường kinh doanh của ngành. Trong bài viết tác giả lấy ví dụ về cách tiếp cận của các nhà lập pháp Ba Lan đối với những khái niệm này.
Cuối cùng, tác giả kết luận rằng nhu cầu cấp thiết để thiết lập một chính sách mới cho thế hệ kết nối mạng tiếp theo và nhu cầu truy cập cũng như mang lại các công nghệ mới sẽ thúc đẩy việc công nhận nhiều hơn cho các khái niệm được trình bày trong bài viết. (2003), Regulatory Challenges and Models of Regulation (Những thách thức trong quy định pháp luật và các mô hình quản lý), Journal on Telecommunications High Technology Law, 2, 1-16. Bài báo được viết từ kết quả của Hội thảo thuộc chương trình Silicon Flatiron nhằm xác định chế độ pháp lý mới sẽ quản lý ngành công nghiệp viễn thông, Internet và CNTT ở Mỹ (gọi chung là ngành công nghiệp thông tin).