Nghiên cứu về việc hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - Phần 2

Nghiên cứu hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, phần 2, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý hiện hành.

Người đăng

Ẩn danh
227
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tình hình thực tế và những thách thức trong việc đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nhà kinh doanh, việc nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trở thành một vấn đề cấp thiết. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng hình thức bán hàng hóa với điều kiện cho phép người mua trả chậm, trả dần. Tuy nhiên, việc này cũng kéo theo rủi ro cho bên bán khi chưa thu đủ tiền. Do đó, bên bán cần có biện pháp bảo đảm để buộc bên mua thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình. Theo Điều 461 Bộ luật dân sự năm 2005, các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn nhất định. Việc bảo lưu quyền sở hữu cho đến khi bên mua trả đủ tiền là một trong những biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này không đơn giản, đặc biệt đối với các tài sản không cần đăng ký quyền sở hữu. Điều này đặt ra câu hỏi về tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp bảo đảm hiện tại.

1.1. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như bảo lưu quyền sở hữu, cầm cố, thế chấp đều có những đặc điểm riêng. Bảo lưu quyền sở hữu cho phép bên bán giữ quyền kiểm soát tài sản cho đến khi bên mua hoàn tất nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, việc này chỉ thực sự hiệu quả với các tài sản cần đăng ký quyền sở hữu. Đối với các tài sản không cần đăng ký, bên bán có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát và yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ. Điều này dẫn đến việc bên bán có thể bị động trong việc xử lý tài sản nếu bên mua không thực hiện nghĩa vụ. Hơn nữa, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm hiện tại cần phải được điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn giao dịch và yêu cầu của thị trường.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán

Trong hợp đồng mua bán, quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định rõ ràng. Bên bán có quyền yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn, trong khi bên mua có quyền sử dụng tài sản đã mua. Tuy nhiên, quyền sử dụng tài sản trong trường hợp này không đồng nghĩa với quyền định đoạt tài sản. Việc này gây ra những bất cập trong thực tiễn, khi bên mua không thể tự do chuyển nhượng tài sản cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ thanh toán. Điều này cũng dẫn đến việc bên bán phải có trách nhiệm kiểm soát và bảo đảm tài sản trong suốt thời gian thực hiện nghĩa vụ của bên mua. Do đó, cần có những quy định pháp lý rõ ràng hơn để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên trong giao dịch.

II. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Để nâng cao hiệu quả trong việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, cần có những điều chỉnh trong pháp luật hiện hành. Trước hết, cần quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán, đặc biệt là các biện pháp bảo đảm như bảo lưu quyền sở hữu và cầm cố tài sản. Việc này sẽ giúp các bên có cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Hơn nữa, cần có các quy định cụ thể về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên mua không thực hiện nghĩa vụ. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bên bán mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho bên mua trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình.

2.1. Cải cách quy định về bảo lưu quyền sở hữu

Cần có quy định rõ ràng về việc bảo lưu quyền sở hữu trong các giao dịch mua bán, đặc biệt là đối với các tài sản không cần đăng ký quyền sở hữu. Điều này sẽ giúp bên bán dễ dàng hơn trong việc kiểm soát tài sản và yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ. Hơn nữa, cần quy định rõ về trách nhiệm của bên bán trong việc thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu tài sản. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bên bán mà còn tạo ra sự công bằng trong giao dịch giữa các bên.

2.2. Tăng cường công tác thi hành án và xử lý tài sản bảo đảm

Công tác thi hành án cần được cải thiện để đảm bảo quyền lợi của bên nhận bảo đảm. Cần có những quy định cụ thể về thời gian và quy trình xử lý tài sản bảo đảm, nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi và đảm bảo tính khả thi trong việc thu hồi nợ. Hơn nữa, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc xử lý tài sản bảo đảm, nhằm đảm bảo quyền lợi của bên nhận bảo đảm được thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/01/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

Trong thực tế, dé cạnh tranh lẫn nhau giữa các nhà kinh doanh và tăng cường sức mua của người tiêu dùng nham thúc day quá trình chu chuyên hang hoá, các nhà kinh doanh nghĩ đến việc bán hàng hoá trong điều kiện cho phép người mua trả chậm, trả dần tiền mua trong một thời hạn nhất định. Thế nhưng, khi đã giao hàng hoá mà tiền chưa thu đủ, nhà kinh doanh dé gặp rủi ro. Vì vậy, bên bán phải tìm ra và thoả thuận với bên mua một biện pháp nào đó dé bên mua buộc phải trả hết tiền trong thời hạn đã thoả thuận. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền là một trong các biện pháp dé bao dam cho việc trả tiên mua tài sản.

Ghi nhận thực tế trên và dé có cơ sở pháp lý điều chỉnh và giải quyết các quan hệ này, Điều 461 BLDS năm 2005 đã quy định: “Các bên có thé thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Luật thực định (Khoản 2, Điều 451 BLDS năm 2005) quy định rằng “Bên mua có quyên sử dụng vật mua trả chậm, trả dân và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác” cho phép ta hiểu nêu các bên trong hợp đồng này không có thoả thuận nào khác thì từ thời điểm nhận vật mua, bên mua có toàn quyền đối với vật đó như một chủ sở hữu của vật, ngoại trừ quyền định đoạt. Đây được coi là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán tài sản mà bên được bảo đảm là bên bán tài sản với quyền kiểm soát lưu thông tài sản (vốn là một trong các quyền của bên nhận thế chấp tài sản). Quyền này trong hợp đồng mua trả chậm trả dần cũng như trong thế chấp tài sản là quyền pháp định và chỉ được giải trừ khi có sự thoả thuận khác giữa các bên.

Tuy nhiên, quyền kiểm soát lưu thông tải sản trong trong thế chấp tài sản chi là quyền pháp định đối với tài sản thé chấp không phải là hàng hoá luân chuyền trong quá trình sản xuất kinh doanh còn trong mua tra chậm, trả dan, không được luật thực định quy định rõ. Bởi vậy, có một những hỏi đặt ra là bên bán được thực hiện việc bảo lưu quyền sở hữu đối với vật bán là loại tài sản gì hay tat ca? Việc bảo lưu quyên sở hữu được thực hiện như thê nao? Thực tiền đời sông cho thay răng, việc sử dụng bảo lưu quyên sở hữu đôi với vật ban chi có ý nghĩa là một biện pháp bao dam cho việc trả tiên mua trong 222 các giao dịch mua trả chậm, trả dan những tai sản phải đăng ký quyền sở hữu bởi đối với loại tài sản này, bên mua chỉ có thé đăng ky được quyền sở hữu đối với tài sản khi có sự đồng ý của bên bán. Khi chưa trả đủ tiền mua và vì thế, chưa đăng ký được quyền sở hữu, bên mua không thể định đoạt được tài sản. Trong các trường hợp này, quyền bảo lưu được thực hiện bằng cách, bên bán sẽ không thực hiện việc đăng ký, sang tên đối với tài sản cho bên mua nếu họ chưa trả đủ tiền.

Chăng hạn, Công ty kinh doanh ô tô X mua một loạt xe hơi và đăng ký quyền sở hữu mang tên công ty để bán trả chậm, trả dần. Khách hàng A mua một xe trả chậm, trả dần trong thời hạn 3 năm từ 20/10/2013 đến 29/10/2016 với số tiền trả trước là 50%. Theo đó, khách hàng nhận xe và sử dụng như một chủ sở hữu nhưng đứng tên trong đăng ký xe vẫn là Công ty X. Trong thời gian này, khách hang A không thé bán xe đó cho người khác hoặc dù có bán cũng không thé thực hiện được các thủ tục bắt buộc dù Công ty X không cần có bất kỳ động thái nào.

Đối với các giao dịch mua trả chậm, trả dần mà trong đó các tài sản mua bán là loại tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền bảo lưu khó có thể thực hiện được bởi về mặt pháp lý, bên mua là chủ sở hữu của tài sản kể từ thời điểm nhận vật (trừ khi có thoả thuận khác) nên họ có quyền và it ra là có thé định đoạt tài sản đó bất cứ lúc nào. Về mặt thực tế, bên bán không thể có điều kiện liên tục kiểm soát dé ngăn chặn việc định đoạt tài sản đó ở bên mua. Vì vậy, dù luật cho phép nhưng việc bảo lưu quyền sở hữu đối với vật bán trong các giao dịch này không mang ý nghĩa là một biện pháp bảo đảm cho việc trả tiền mua vật. Tuy nhiên, nó sẽ có ý nghĩa trong việc kiện đòi lại tài sản hoặc yêu cầu bồi thườrg thiệt hai sản nếu hết thời hạn mà bên mua không trả đủ tiền mua.

'°? - Chuộc lại tài sản đã bản Có rât nhiều trường hợp, một người không muôn bán đi một tài sản nhưng trong hoàn cảnh rat cân tiên dùng làm von dé sản xuất, kinh doanh hoặc vì các lý do khác. Trong các trường hợp này, họ có hai con đường dé lựa chọn, hoặc là dùng tài sản đó câm cô hay thê châp đê vay vôn, hoặc là bán tải sản đó với quyền được chuộc lại sau một thời hạn. Nết theo lựa chọn thứ nhất, họ không pial ban tai san nro luôn phải trả thêm mo lương gid trị ngoài lượng giá trị là vốn gốc vav ban đâu Luong giá tri „= Trong trưng hợp bén mua }-chong trả hết tiền khi hết hạn trả chậm, bên ban cd thé khởi kiện tranh chap hop dong dé yêu ‘au bên mua tra số tién còn nợ néu hợp đồng đó đã có hiệu lực và con tuoi hiệu khơikiện. :vêu hợp đồng chưa ci hiệu lực hoặc hết thời hiệu khởi kiện thì việc bảo lưu quyền sở hữu là căn cứ để người bán với tu cách là chủ sr hữu của tài sản khởi kiện đòi lại tài san hoặc yêu câu bôi thường thiệt hại.

223 tăng thêm này được gọi là tiên lãi. Nếu theo lựa chọn thứ hai, họ không phải chịu khoản tiền lãi nhưng thay vào đó, họ phải chấp nhận sự bất lợi về giá bán tài sản vì thông thường người mua trong mua bán có chuộc lại thường quan tâm đến giá mua thấp hơn giá mua của các hợp đồng không được quyên chuộc lại hơn là nhu cau sở hữu tài sản. Thậm chí, bên bán trong bán có chuộc lại tài sản có thể bị mất đi một khoản tiền mà thậm chí cao hơn lượng giá trị tăng thêm trong vay vốn nếu giá thị trường vào thời điểm chuộc lại tài sản thấp hơn nhiều so với giá tại thời điểm bán tài sản. Tuy nhiên, họ có quyền lựa chọn việc chuộc lại hay không chuộc lại tài sản sau khi tính toán lợi ích kinh tế.

Cả hai trường hợp trên đều có thé dẫn đến tình trạng cham dứt quyên sở hữu của họ đôi với tài sản nêu đên thời hạn trả nợ mà họ không trả được khoản vay hoặc nêu het thời hạn chuộc lại tài sản mà họ không đủ tiên dé chuộc lại hoặc do lợi ích kinh tế mà họ không chuộc lại tài sản đó. Như vậy, bán có chuộc lại tài sản có thé được coi là một biến thé của cầm cố tài sản bởi các lý do sau đây: Cả hai trường hợp, người có tài sản đều thông qua tài sản đó để có một khoản vốn sử dụng trong một thời hạn nhất định và chỉ lay lại được tài sản khi có đủ tiền để hoàn lại khoản vốn mà người nhận tài sản đã giao cho. Vì vậy, tài sản trong cả hai trường hợp đều được coi là vật bảo đảm an toàn đối với khoản tiền mà người nhận tài sản đã bỏ ra. Trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật thì trong cả hai trường hợp, bên nhận tai sản không được trao đối, tặng cho, cho :huê, thé chap, cầm cô tài sản, nhưng khi hết thời hạn đó, tài sản đều có thê thuộc quyên sở hữu của bên nhận tài sản.

Tuy nhiên, giữa hai trường hợp lại có một sô diém khác nhau sau đây: Trong trường hợp bán có chuộc lại tài sản thì quyền sở hữu được xác lập ở người nua theo quy định của pháp luật về thời điểm chuyên quyền sở hữu đối với tài sải mua bán nhưng trong cầm cô thi tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên có tai san ve quyền sở hữu chỉ cham dứt khi tài sản cầm cố đã bị xử lý theo thoả thuận ho‡c theo quy định của pháp. Thời hạn cầm cố tài sản do các bền thoả thuận, không có sự giớ! hạn bởi pháp luật và thường được xác định theo thời hạn cua ngia vụ được bao dan: bằng biệr pháp cầm cỗ đó nhưng sự thoả thuận về thời hạn chuộc lại tài sản có 224 sự giới hạn của pháp luật. Tài sản bán có chuộc lại là tài sản bất ky (luật thực định không giới hạn) nên cần bàn đến tính hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mua bán dé xác định việc chuộc lại tài san được thực hiện như thé nào trong từng trường hợp cụ thê. Nếu tài sản mua bán là loại tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng mua bán có hiệu lực từ thời điểm giao kết và bên mua là chủ sở hữu của tài sản kế từ thời điểm nhận tài sản đó.

Bên bán có quyên chuộc lại tài sản trong thời hạn chuộc lại nhưng nếu muốn nhận lại tài sản phải với tư cách là người mua tai sản đó với giá thoả thuận mới hoặc theo giá thị trường của tai sản vào thời điểm và địa điểm mua. Trong trường hợp này thì việc chuộc lại tài sản là một hợp đồng mua bán mới được thiết lập mà trong đó quyền mua được xác định từ hợp đồng mua bán trước. Nếu tài sản bán là loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì người mua chỉ được đứng tên sở hữu tài sản khi đã thực hiện thủ tục đăng ký. Trong trường hợp này sẽ có hai tình huống xảy ra, hoặc là các bên chưa làm thủ tục hợp đồng và đăng ký quyền sở hữu khi còn thời hạn chuộc lại hoặc là đã làm các thủ tục đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về việc hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - Phần 2" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nội dung bài viết tập trung vào các vấn đề thực tiễn và các giải pháp nhằm cải thiện chế độ pháp lý hiện hành, từ đó giúp các nhà làm luật, học giả và người thực thi pháp luật có thêm thông tin hữu ích để nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ dân sự. Qua đó, bài viết không chỉ mang lại kiến thức pháp lý mà còn góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện nghĩa vụ dân sự trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ dân sự và các quy định pháp luật hiện hành.