Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh đóng vai trò là động lực then chốt của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới. Theo số liệu thống kê, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, giải quyết việc làm cho xấp xỉ 80% lực lượng lao động quốc gia và đóng góp tới 30% GDP cùng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sau khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ra đời, khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển vượt bậc. Mức vốn đăng ký bình quân của mỗi doanh nghiệp tăng từ 0,57 tỷ đồng trong giai đoạn 1991 - 1999 lên mức 2,12 tỷ đồng vào năm 2003.

Tuy nhiên, môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động của khối doanh nghiệp này vẫn tồn tại nhiều rào cản và bất cập. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào sự thiếu đồng bộ trong tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp, các điểm nghẽn pháp lý khi tiếp cận vốn vay ngân hàng, cũng như sự hạn chế trong cơ chế bảo lãnh tín dụng và ưu đãi thuế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh, đánh giá toàn diện tác động thực tiễn của khung pháp luật hiện hành và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế.

Phạm vi nghiên cứu được xác định từ thời điểm Nghị định số 90/2001/NĐ-CP có hiệu lực năm 2001 đến hết năm 2005 trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc tạo lập hành lang pháp lý thông thoáng nhằm hỗ trợ hơn 135.000 doanh nghiệp mới thành lập phát triển bền vững, tạo công ăn việc làm ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật phát triển kinh tế nhiều thành phần cùng hệ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, đề tài áp dụng lý thuyết kinh tế thể chế và lý luận chung về Nhà nước và pháp luật để giải thích vai trò của công cụ điều tiết pháp lý đối với hành vi kinh doanh và quản trị tài chính doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu phân tích thể chế được thiết lập dựa trên mối quan hệ tương tác giữa ba trụ cột: Khung pháp lý về tiêu chí phân loại quy mô doanh nghiệp, Cơ chế pháp lý bảo đảm huy động vốn tín dụng, và Chính sách pháp luật về ưu đãi tài chính - thuế.

Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt đề tài bao gồm:

  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh: Thực thể kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, được thành lập theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, vốn sở hữu thuộc cá nhân hoặc tập thể ngoài Nhà nước và đáp ứng các ngưỡng quy định về vốn hoặc lao động.
  • Tiêu chí xác định doanh nghiệp: Hệ thống các chỉ số định lượng bao gồm quy mô vốn đầu tư dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động thường xuyên dưới 300 người.
  • Bảo đảm tiền vay và giao dịch bảo đảm: Quy chế pháp lý ràng buộc nghĩa vụ trả nợ thông qua các biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất, cầm cố tài sản hoặc bảo lãnh từ bên thứ ba theo quy định tín dụng ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê giai đoạn 2000 - 2004, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo đánh giá của Ngân hàng Thế giới. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp từ thực tiễn thực thi chương trình hỗ trợ tại các tổ chức tín dụng như Ngân hàng Á Châu và Quỹ Hỗ trợ Mê Kông.

Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện trên 1.500 doanh nghiệp nhỏ và vừa đại diện cho các vùng kinh tế trọng điểm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao giữa các nhóm ngành nghề và quy mô vốn khác nhau.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp luật học so sánh, tổng hợp thống kê mô tả, phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp quy nạp - diễn dịch. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu chuẩn mực pháp lý quốc tế của Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore với thực trạng Việt Nam, từ đó lượng hóa chính xác các khoảng trống thể chế và đưa ra các đề xuất lập pháp khả thi. Toàn bộ timeline nghiên cứu được tiến hành liên tục từ năm 2001 đến năm 2005.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh tăng trưởng đột phá nhưng quy mô vốn nhìn chung còn rất mỏng. Tính đến tháng 6/2005, cả nước đã có trên 135.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới, nâng tổng số lên gần 200.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, có tới 94,93% tổng số doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng với mức vốn thực tế sử dụng bình quân chỉ đạt 3,3 tỷ đồng. Đáng chú ý, tại khu vực phía Bắc có gần 50% doanh nghiệp hoạt động với mức vốn ban đầu dưới 1 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề có sự mất cân đối rõ nét. Tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ chiếm ưu thế tuyệt đối với 47,4%, tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 38,2%. Ngược lại, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ thu hút 5,8% số doanh nghiệp, và các ngành nghề khác chiếm 8,6%. Xét theo hình thức pháp lý, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đứng thứ hai là công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân, trong khi loại hình công ty hợp danh chỉ chiếm 0,3%.

Thứ ba, tốc độ gia tăng vốn đầu tư đăng ký có sự phân hóa mạnh mẽ theo địa phương. Giai đoạn 2000 - 2004 ghi nhận 33 tỉnh, thành phố có tốc độ tăng vốn đăng ký gấp 4 lần so với giai đoạn 1991 - 1999; 11 địa phương có tốc độ tăng trên 10 lần, đặc biệt các tỉnh Hưng Yên, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc đạt tốc độ tăng trưởng trên 20 lần. Mức vốn bình quân đăng ký cao nhất thuộc về Hưng Yên với gần 3 tỷ đồng/doanh nghiệp, Quảng Ninh và Bình Dương đạt gần 2,5 tỷ đồng/doanh nghiệp, trong khi Quảng Nam thấp nhất chỉ đạt 422 triệu đồng/doanh nghiệp.

Thứ tư, nhóm chủ thể kinh tế siêu nhỏ chiếm tỷ trọng khổng lồ nhưng chưa có khung pháp lý điều chỉnh tương xứng. Toàn quốc ghi nhận khoảng 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 10 lao động cùng 18.000 hợp tác xã. Những chủ thể này đang tạo ra phần lớn việc làm xã hội nhưng bị loại khỏi các chính sách hỗ trợ trọng tâm dành riêng cho doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm có thể được mô tả trực quan thông qua bảng phân loại cơ cấu ngành và biểu đồ đường biểu diễn sự tăng trưởng vốn bình quân từ mức 0,57 tỷ đồng (1991 - 1999), lên 0,96 tỷ đồng (năm 2000), 1,3 tỷ đồng (năm 2001), 1,8 tỷ đồng (năm 2002) và đạt 2,12 tỷ đồng (năm 2003). Đồ thị này phản ánh rõ nét tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp năm 1999 đối với tâm lý bỏ vốn kinh doanh của người dân.

Nguyên nhân căn bản của các rào cản tài chính xuất phát từ sự cứng nhắc trong các quy định về bảo đảm tiền vay theo Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP. Quy định pháp luật bắt buộc phải có tài sản thế chấp hợp pháp, trong đó quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất là điều kiện tiên quyết. Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh do mới thành lập nên không thể đáp ứng được yêu cầu về tài sản thế chấp hoặc báo cáo tài chính kiểm toán 2-3 năm có lãi liên tục.

Khi so sánh với chuẩn mực của Liên minh Châu Âu (năm 2005), thông lệ quốc tế phân định rất rành mạch ba cấp độ: doanh nghiệp trung bình (dưới 250 lao động, doanh thu dưới 50 triệu euro), doanh nghiệp nhỏ (dưới 50 lao động, doanh thu dưới 10 triệu euro) và doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 10 lao động, doanh thu dưới 2 triệu euro). Trong khi đó, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Việt Nam chỉ gộp chung tiêu chí dưới 300 lao động hoặc vốn dưới 10 tỷ đồng. Sự cào bằng này khiến chính sách ưu đãi không chạm tới nhóm doanh nghiệp thực sự cần trợ cấp, làm giảm hiệu lực thực thi của Quỹ Bảo lãnh tín dụng theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ triệt để các rào cản pháp lý và thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh tăng trưởng mạnh mẽ, hệ thống 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

  • Hoàn thiện tiêu chí phân loại doanh nghiệp trong văn bản pháp luật: Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần ban hành nghị định sửa đổi, thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP. Trong đó, phân tách rõ ràng 3 phân khúc gồm doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ dựa trên sự kết hợp đồng thời giữa chỉ tiêu lao động và doanh thu thuần hàng năm. Mục tiêu đạt 100% chính sách hỗ trợ được áp dụng trúng đối tượng thụ hưởng, hoàn thành lộ trình ban hành trong quý II/2006.
  • Cải cách cơ chế bảo đảm tiền vay và định giá tài sản thế chấp: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần rà soát Thông tư số 07/2003/TT-NHNN và quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng. Cần cho phép doanh nghiệp được sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay và giá trị quyền thuê đất trả tiền hàng năm làm tài sản bảo đảm, đồng thời nâng tỷ lệ cấp tín dụng tín chấp dựa trên phương án kinh doanh khả thi lên mức tối thiểu 25% tổng dư nợ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2006 - 2008.
  • Tái cơ cấu mô hình tổ chức Quỹ Bảo lãnh tín dụng: Bộ Tài chính cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành sửa đổi Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg. Cần tinh gọn quy trình thẩm định hồ sơ, hạ thấp tỷ lệ ký quỹ bảo lãnh và phân quyền linh hoạt cho các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương nhằm gia tăng tỷ lệ tiếp cận vốn vay cho hơn 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể thêm 35% trong giai đoạn 2006 - 2007.
  • Ban hành chính sách miễn giảm thuế và đơn giản hóa thủ tục hành chính: Quốc hội và Bộ Tài chính cần nghiên cứu áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi giảm từ 20% đến 50% trong 3 năm đầu khởi nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn kinh tế khó khăn hoặc các ngành công nghệ cao, đồng thời cắt giảm tối thiểu 40% thời gian thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm trong giai đoạn 2006 - 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên gia thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước có thể khai thác các luận cứ khoa học để hoàn thiện dự thảo luật, nghị định điều chỉnh khu vực kinh tế tư nhân và thiết kế các chương trình trợ giúp doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế.
  • Ban lãnh đạo các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại: Khối ngân hàng có thể ứng dụng các phân tích về giao dịch bảo đảm để chuẩn hóa quy trình thẩm định rủi ro, phát triển các gói sản phẩm tín dụng đặc thù và xây dựng bộ tiêu chí xếp hạng tín nhiệm nội bộ dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Các chủ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể: Giúp các nhà sáng lập nắm bắt toàn diện khung khổ pháp lý, quyền lợi được bảo vệ, hiểu rõ điều kiện vay vốn thế chấp và cơ chế hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng để xây dựng phương án tài chính hiệu quả.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng và Quản trị kinh doanh về đề tài thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định số 90/2001/NĐ-CP quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như thế nào? Theo Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Cơ quan quản lý có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu hoặc một trong hai chỉ tiêu tùy theo ngành nghề và địa phương.

Đâu là trở ngại pháp lý lớn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khi vay vốn ngân hàng? Trở ngại lớn nhất là quy định bắt buộc phải có tài sản bảo đảm theo Nghị định số 178/1999/NĐ-CP. Có tới 94,93% doanh nghiệp có mức vốn dưới 10 tỷ đồng nên thường thiếu quyền sử dụng đất hoặc tài sản có giá trị lớn để thế chấp. Thêm vào đó, việc thẩm định vay tín chấp đòi hỏi lịch sử quan hệ tín dụng uy tín lâu năm khiến các doanh nghiệp mới thành lập khó tiếp cận vốn.

Tại sao tiêu chí xác định doanh nghiệp theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP lại bộc lộ hạn chế trong thực tiễn? Hạn chế căn bản là văn bản không phân định cụ thể giữa doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ. Việc cào bằng tiêu chí khiến các chương trình hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng bị dàn trải. Ngoài ra, hơn 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể có dưới 10 lao động chưa được định danh rõ để hưởng chính sách tương xứng.

Kinh nghiệm phân loại doanh nghiệp của Liên minh Châu Âu có điểm gì đáng học hỏi? Liên minh Châu Âu áp dụng khung phân loại ba cấp độ rất chuẩn xác: Doanh nghiệp vừa (dưới 250 lao động, doanh thu dưới 50 triệu euro), Doanh nghiệp nhỏ (dưới 50 lao động, doanh thu dưới 10 triệu euro), và Siêu nhỏ (dưới 10 lao động, doanh thu dưới 2 triệu euro). Mô hình này giúp chính sách tài khóa và trợ cấp vốn được phân bổ đúng trọng tâm.

Quỹ Bảo lãnh tín dụng theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg gặp những điểm nghẽn gì? Điểm nghẽn nằm ở quy trình thẩm định phức tạp, điều kiện cấp bảo lãnh khắt khe tương đương với điều kiện vay vốn trực tiếp tại ngân hàng, và năng lực tài chính của các quỹ địa phương còn hạn chế. Do đó, các doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp vẫn rất khó nhận được bảo lãnh tín dụng từ quỹ.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh.
  • Thực trạng nghiên cứu chỉ ra 94,93% doanh nghiệp có mức vốn dưới 10 tỷ đồng và mức vốn đăng ký bình quân đạt 2,12 tỷ đồng vào năm 2003, khẳng định sự phát triển nhanh về số lượng nhưng còn mỏng về năng lực tài chính.
  • Công trình đã bóc tách chính xác các điểm nghẽn thể chế về bảo đảm tiền vay, rào cản thế chấp đất đai và bất cập trong tiêu chí định danh doanh nghiệp theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao, bao gồm đổi mới tiêu chí phân tầng doanh nghiệp, nới lỏng cơ chế cho vay tín chấp, tái cấu trúc Quỹ Bảo lãnh tín dụng và tối ưu hóa chính sách ưu đãi thuế.
  • Tạo tiền đề pháp lý quan trọng để giải phóng nguồn lực cho hơn 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể và 200.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên toàn quốc.

Về lộ trình các bước tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương hoàn thiện nghị định thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP trong giai đoạn 2006 - 2008 và hoàn thiện đồng bộ Luật Doanh nghiệp chung đến năm 2010. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần tiếp tục mở rộng đánh giá tác động của các định chế tài chính mới như quỹ đầu tư mạo hiểm và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) nhằm mở rộng tối đa các kênh huy động vốn cho kinh tế tư nhân Việt Nam.