Chương 1: Những vấn đề chung về việc gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) của Việt Nam Chương 2: Tiến trình gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) của Việt Nam Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) của Việt Nam 9 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC GIA NHẬP TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) CỦA VIỆT NAM 1. Khái quát về Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) Lịch sử hình thành: Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, với ý tƣởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thƣơng mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thƣơng mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nƣớc sáng lập GATT đã cùng một số nƣớc tổ chức Hội nghị về thƣơng mại và việc làm và dự thảo bản “Hiến chƣơng La Havana” để thành lập Tổ chức Thƣơng mại quốc tế (ITO) với tƣ cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc. Đồng thời, các nƣớc này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thƣơng mại quốc tế, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đƣờng cho kinh tế và thƣơng mại phát triển. Nhƣng do một số quốc gia gặp khó khăn trong việc phê chuẩn, nên việc hình thành Tổ chức thƣơng mại Quốc tế đã không thực hiện đƣợc.
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định và với kết quả đáng khích lệ đã đạt đƣợc ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên: “(45.000 ƣu đãi về thuế đƣợc áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lƣợng mậu dịch thế giới) 23 nƣớc sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thƣơng mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948”[63, tr. 10 z Tuy nhiên sau đó, do thƣơng mại quốc tế không ngừng phát triển, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thƣơng mại (GATT) vốn chỉ là một sự thoả thuận về vấn đề thuế quan đã tỏ ra không thích hợp. Do đó, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT. WTO chính thức đƣợc thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995.
So với GATT thì WTO mở rộng hơn về các lĩnh vực và diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi thuế quan, về thƣơng mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tƣ có liên quan tới thƣơng mại, về thƣơng mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp. Mục tiêu của WTO: Với tƣ cách là tổ chức thƣơng mại toàn cầu, WTO có những mục tiêu cơ bản sau: - Thúc đẩy tăng trƣởng thƣơng mại hàng hoá và dịch vụ, nâng cao việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trên thế giới phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trƣờng thông qua việc tạo ra một tập hợp các quy tắc và nguyên tắc cho thƣơng mại quốc tế, bảo đảm một môi trƣờng minh bạch, dễ dự báo trong thƣơng mại quốc tế. WTO vẫn đảm đƣơng trách nhiệm của GATT về thúc đẩy đàm phán đa phƣơng nhằm tự do hoá thƣơng mại, đã đóng góp vào phát triển và tăng trƣởng kinh tế trong các quốc gia thành viên. - Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trƣờng, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên trong khuôn khổ của hệ 11 z thống thƣơng mại đa phƣơng, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; bảo đảm cho các nƣớc đang phát triển và đặc biệt là các nƣớc kém phát triển nhất đƣợc thụ hƣởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trƣởng của thƣơng mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nƣớc này và khuyến khích các nƣớc này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho ngƣời dân các nƣớc thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu đƣợc tôn trọng. Chức năng chính: WTO thực hiện các chức năng chủ yếu sau: - Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thƣơng mại đa phƣơng và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nƣớc thành viên thực hiện các nghĩa vụ thƣơng mại quốc tế của họ. - Đƣa ra khuôn khổ chung và làm diễn đàn để tiến hành các vòng đàm phán thƣơng mại đa phƣơng trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trƣởng WTO. - Làm diễn đàn cho các thành viên giải quyết các tranh chấp thƣơng mại và thực thi cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực hiện và giải thích các hiệp định thƣơng mại đa phƣơng và nhiều bên trong khuôn khổ WTO.
- Thực hiện việc rà soát, giám sát các chính sách thƣơng mại của các thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thƣơng mại và tuân thủ các quy định của WTO. - Trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo cho các quốc gia đang phát triển. 12 z - Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác nhƣ Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo những xu hƣớng phát triển tƣơng lai của kinh tế toàn cầu.222] Nguyên tắc hoạt động: Các hiệp định của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) có nhiều và phức tạp trên các lĩnh vực nhƣ nông nghiệp, dịch vụ, thuế quan .Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc và chúng đƣợc coi là nền tảng của hệ thống thƣơng mại đa phƣơng. Nguyên tắc thứ nhất là, thương mại không có sự phân biệt đối xử.
Nguyên tắc này đƣợc cụ thể hoá trong các quy định về Quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) mà nội dung chính là dành sự đối xử bình đẳng đối với các thƣơng nhân, hàng hoá, dịch vụ của các bên tham gia thƣơng mại. Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này. Chẳng hạn, các nƣớc có thể thiết lập một hiệp định thƣơng mại tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong một nhóm quốc gia, phân biệt với hàng từ bên ngoài nhóm. Nguyên tắc thứ hai là, tạo dựng một nền tảng ổn định, dễ dự đoán cho thương mại.
Các nƣớc thành viên có nghĩa vụ công khai, minh bạch hoá các chính sách của mình, cam kết sẽ không có những thay đổi bất lợi cho thƣơng mại. Đôi khi cam kết bảo đảm sự ổn định các hàng rào thƣơng mại (thuế quan và phi thuế quan) đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhà đầu tƣ. Với sự ổn định, dễ dự đoán, thì việc đầu tƣ sẽ đƣợc khuyến khích, việc làm sẽ đƣợc tạo ra nhiều hơn và ngƣời tiêu dùng, doanh nghiệp sẽ đƣợc hƣởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trƣờng. 13 z Nguyên tắc thứ ba là, đảm bảo thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán.
Các hàng rào cản trở thƣơng mại dần dần đƣợc loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lƣợc kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu. Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ đƣợc thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phƣơng và đa phƣơng. Đến nay có 8 vòng đàm phán đa phƣơng kể từ khi GATT đƣợc hình thành vào năm 1947. Nguyên tắc thứ tư là, tạo môi trường cạnh tranh ngày càng lành mạnh và bình đẳng hơn.
WTO không cho phép các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thƣơng mại quốc tế, ví dụ nhƣ bán phá giá, trợ cấp hàng hoá, hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định. Tuy nhiên, WTO vẫn cho phép các nƣớc đƣợc áp dụng các biện pháp tự vệ nhƣ bảo hộ, thuế quan khi nền sản xuất trong nƣớc bị đe doạ, bị gây thiệt hại bởi hàng nhập khẩu. Nguyên tắc thứ năm là, điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển. Hiện nay, 3/4 thành viên của WTO là các nƣớc đang phát triển và kém phát triển.
Thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nƣớc đang phát triển, các nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi những ƣu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nƣớc này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thƣơng mại đa phƣơng [3, tr. Các ƣu đãi này đƣợc thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ nào đó hay có thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách. Các hiệp định chính trong WTO: 14 z Các hiệp định của WTO điều chỉnh các lĩnh vực nhƣ thƣơng mại hàng hoá, thƣơng mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Chúng đề ra những nguyên tắc về tự do hoá và những ngoại lệ đƣợc phép áp dụng; nêu lại cam kết của từng nƣớc về giảm thuế quan và các rào cản thƣơng mại khác, về mở cửa và duy trì mở cửa thị trƣờng dịch vụ; quy định thủ tục giải quyết tranh chấp; quy định các nƣớc đang phát triển phải đƣợc đối xử đặc biệt; buộc các chính phủ phải bảo đảm minh bạch trong chính sách thƣơng mại bằng cách thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các biện pháp đƣợc áp dụng trong nƣớc song song với các báo cáo định kỳ của Ban thƣ ký về chính sách thƣơng mại của các nƣớc.
Các hiệp định này thƣờng đƣợc gọi là các luật lệ thƣơng mại của WTO và WTO thƣờng đƣợc miêu tả nhƣ là một hệ thống hoạt động dựa trên các luật lệ.