Phân tích thực trạng tiêu thụ vắc xin Viêm não Nhật Bản tại Hải Phòng 2019-2020

Phân tích thực trạng tiêu thụ vắc xin viêm não Nhật Bản tại Hải Phòng giai đoạn 2019-2020. Luận văn cung cấp số liệu, cơ cấu và đánh giá nhu cầu.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh viêm não Nhật Bản và vắc xin phòng ngừa

Viêm não Nhật Bản (VNNB) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra, lây truyền qua muỗi Culex. Bệnh này phổ biến ở các khu vực châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Vắc xin viêm não Nhật Bản đã trở thành công cụ quan trọng trong chương trình tiêm chủng mở rộng nhằm bảo vệ sức khỏe cộng động. Tại Hải Phòng, việc tiêm chủng vắc xin VNNB được tiến hành thông qua các phòng tiêm chủng dịch vụ, giúp nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong dân số. Hiện nay, có hai loại vắc xin viêm não Nhật Bản chính được sử dụng là Imojev (vắc xin sống, giảm độc lực) và Jevax (vắc xin bất hoạt), mỗi loại có những ưu điểm và đặc điểm riêng.

1.1. Dịch tễ học bệnh viêm não Nhật Bản

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút JE gây ra, lây truyền qua muỗi Culex trong mùa hè và thu. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở trẻ em dưới 15 tuổi và người cao tuổi trên 60 tuổi. Tại Hải Phòng, bệnh thường xuất hiện vào giai đoạn tháng 6 đến tháng 10 hàng năm. Việc tiêm chủng vắc xin VNNB là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất, giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng nặng.

1.2. Đặc điểm lâm sàng và khuyến cáo tiêm phòng

Viêm não Nhật Bản biểu hiện với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, cứng cổ, co giật và có thể dẫn đến tử vong hoặc biến chứng thần kinh nặng nề. WHO khuyến cáo tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản cho trẻ em từ 9 tháng tuổi trở lên và người trưởng thành sinh sống hoặc du lịch tại vùng dịch tễ. Tại Hải Phòng, lịch tiêm vắc xin VNNB tuân theo khuyến cáo quốc tế để đảm bảo hiệu quả phòng ngừa tối đa.

II. Thực trạng tiêu thụ vắc xin viêm não Nhật Bản tại Hải Phòng giai đoạn 2019 2020

Từ năm 2019 đến 2020, tiêu thụ vắc xin viêm não Nhật Bản tại Hải Phòng trong tiêm chủng dịch vụ có những biến động đáng chú ý. Theo kết quả nghiên cứu của Đại học Dược Hà Nội, lượng vắc xin VNNB được sử dụng phân bố không đều theo các đơn vị hành chính và khu vực. Số liều vắc xin Imojevvắc xin Jevax có tỷ lệ tiêu thụ khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu của người dân và chính sách cung ứng của các cơ sở y tế. Chi phí tiêm chủng vắc xin VNNB cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn loại vắc xin của gia đình. Nghiên cứu cho thấy, cán bộ y tế đánh giá tích cực về chất lượng vắc xin nhưng vẫn có những hạn chế trong khâu phân phối và cung ứng.

2.1. Cơ cấu tiêu thụ theo loại vắc xin và số liều

Vắc xin Imojev (vắc xin sống, giảm độc lực) và vắc xin Jevax (vắc xin bất hoạt) đều được tiêu thụ tại các phòng tiêm chủng dịch vụ ở Hải Phòng. Kết quả phân tích cho thấy vắc xin VNNB loại Imojev có xu hướng tăng về tỷ lệ sử dụng do giá cả và lịch tiêm thuận tiện hơn. Số liều vắc xin tiêu thụ hàng tháng biến động theo mùa, cao nhất vào tháng 5-8 khi nhu cầu tiêm chủng tăng trước mùa dịch.

2.2. Phân bố địa lý và nhân khẩu học

Tiêu thụ vắc xin viêm não Nhật Bản tại Hải Phòng phân bố không đều giữa các khu vực thành thị và nông thôn. Các quận nội thành như Hồng Bàng và Ngô Quyền có nhu cầu tiêm chủng cao hơn. Độ tuổi chủ yếu tập trung ở trẻ em 12-36 tháng tuổi theo lịch tiêm chủng khuyến cáo. Tuy nhiên, tiêm chủng vắc xin VNNB cho người trưởng thành du lịch hoặc làm việc tại vùng dịch tễ cũng tăng dần qua các năm.

III. So sánh hai loại vắc xin viêm não Nhật Bản đang lưu hành

Tại Hải Phòng, hai loại vắc xin VNNB chính được sử dụng là ImojevJevax, mỗi loại có những đặc điểm riêng biệt. Vắc xin Imojev là vắc xin sống, giảm độc lực (JE-CV), chỉ cần một mũi tiêm duy nhất để tạo miễn dịch dài lâu, với giá thành cao hơn nhưng tiện lợi cho người dân. Vắc xin Jevax là vắc xin bất hoạt nuôi cấy trên tế bào não chuột (MBDV), yêu cầu tiêm hai mũi cách nhau 7-30 ngày, có giá rẻ hơn nhưng đòi hỏi lịch tiêm phức tạp hơn. Cả hai loại đều hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh, nhưng lựa chọn vắc xin phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, độ tuổi và khả năng tài chính của từng gia đình.

3.1. Đặc điểm lâm sàng và hiệu quả miễn dịch

Vắc xin Imojev tạo ra phản ứng miễn dịch nhanh chóng sau một mũi tiêm duy nhất, với hiệu giá kháng thể (GMT) cao trong nhóm người khỏe mạnh. Vắc xin Jevax cần hai mũi để đạt miễn dịch tối ưu nhưng có tác dụng không mong muốn thấp hơn. Cả hai loại vắc xin đều không gây ra biến cố bất lợi nghiêm trọng, chỉ có các phản ứng nhẹ như sốt, đau chỗ tiêm, buồn nôn.

3.2. Lợi ích hạn chế và giá thành

Lợi ích của vắc xin Imojev bao gồm lịch tiêm đơn giản, miễn dịch lâu dài từ một mũi duy nhất. Hạn chế là giá thành cao, không phù hợp với người có miễn dịch suy yếu. Vắc xin Jevax rẻ hơn, an toàn cho mọi đối tượng nhưng lịch tiêm phức tạp hơn. Chi phí tiêm chủng VNNB ảnh hưởng lớn đến lựa chọn của người dân Hải Phòng.

IV. Nhu cầu tiêm chủng và đánh giá của cán bộ y tế

Nhu cầu tiêm chủng vắc xin viêm não Nhật Bản tại Hải Phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm nhận thức của cộng đồng, chi phí dịch vụkhả năng cung ứng vắc xin của các cơ sở y tế. Theo kết quả điều tra, cán bộ y tế có đánh giá tích cực về chất lượng cảm quan của vắc xin Imojev nhưng vẫn có những lo ngại về lịch giao hàng không đều. Dịch vụ phân phối vắc xin cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Tác dụng không mong muốn được kiểm soát tốt, nhưng bao bì vắc xin cần có những cải tiến về thông tin hướng dẫn. Nhu cầu tiêm chủng vắc xin VNNB dự kiến sẽ tăng trong những năm tới do nhận thức nâng cao của dân số về phòng ngừa bệnh truyền nhiễm.

4.1. Đánh giá về sản phẩm và dịch vụ tiêm chủng

Cán bộ y tế đánh giá vắc xin Imojevchất lượng cảm quan tốt về bao bì, nhãn mác rõ ràng, dễ sử dụng. Tác dụng không mong muốn ít gặp, an toàn trong sử dụng lâm sàng. Tuy nhiên, dịch vụ phân phối còn chậm, lịch giao hàng không ổn định, ảnh hưởng đến khả năng cung ứng vắc xin tại các phòng tiêm chủng dịch vụ.

4.2. Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và hạn chế

Chi phí tiêm chủng vắc xin VNNB cao là rào cản chính ảnh hưởng đến nhu cầu. Thông tin về vắc xin chưa được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng. Hạn chế còn gồm: cán bộ y tế chưa đủ am hiểu về lịch tiêm hai loại vắc xin, bao bì vắc xin Jevax không rõ ràng, khó nhận biết. Cần tăng cường chương trình tiêm chủng mở rộng để nâng cao tỷ lệ miễn dịch cộng đồng.

21/12/2025
Vũ thị thu trang phân tích thực trạng việc tiêu thụ vắc xin viêm não nhật bản trong tiêm chủng dịch vụ tại hải phòng năm 2019 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vắc xin là một công cụ rất hiệu quả trong dự phòng các bệnh nhiễm trùng. Hiện nay đã có gần 30 bệnh nhiễm trùng có thể dự phòng được bằng vắc xin. Khoảng 85% - 95% người được tiêm chủng sẽ sinh ra miễn dịch đặc hiệu bảo vệ cơ thể không bị mắc bệnh. Người được tiêm chủng không bị mắc bệnh và đương nhiên sẽ không bị chết hay di chứng do bệnh dịch gây ra.

Nhờ có vắc xin, hàng năm trên thế giới đã cứu sống được khoảng 2,5 triệu trẻ em không bị chết do bệnh truyền nhiễm. Vắc xin và tiêm chủng góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới. Để phòng bệnh, trẻ cần phải được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch. Nếu trẻ không được tiêm chủng, tiêm không đầy đủ hoặc tiêm chủng muộn sẽ rất nguy hiểm dẫn đến trẻ có nguy cơ cao bị mắc bệnh do không có miễn dịch bảo vệ.

Trong quá trình thực hiện tiêm chủng thời gian qua cũng có một số nơi, một số thời điểm tỷ lệ tiêm chủng thấp và dịch bệnh nghiêm trọng đã xảy ra như dịch sởi, bạch hầu, ho gà, viêm não Nhật Bản v.v cướp đi sinh mạng của nhiều trẻ em. Điều này càng cho thấy nếu trẻ em không được tiêm chủng thì nguy cơ dịch bệnh quay trở lại là rất lớn, gây nguy hiểm cho sức khỏe trẻ em và toàn thể cộng đồng. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế Việt Nam về viêm não Nhật Bản: “Bệnh viêm não Nhật Bản đã có vắc xin phòng bệnh, thực hiện tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản đầy đủ và đúng lịch là biện pháp phòng bệnh quan trọng và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nếu chỉ tiêm 1 mũi vắc xin thì không có hiệu lực bảo vệ, nếu tiêm đủ 2 mũi vắc xin hiệu lực bảo vệ đạt trên 80%, tiêm đủ 3 mũi vắc xin hiệu lực bảo vệ đạt 90 - 95% trong khoảng 3 năm, do đó trẻ em cần tiêm chủng với 3 liều cơ bản và tiêm chủng nhắc lại sau mỗi 3 năm” [5].

1 Mặc dù đã đưa vắc xin Viêm não Nhật Bản vào chương trình Tiêm Chủng Mở Rộng song Bộ Y Tế ghi nhận tại Việt Nam mỗi năm có từ 200-400 ca nhiễm viêm não Nhật Bản trong đó 71% số ca nhiễm bệnh đã không tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đầy đủ [5]. Năm 2018 công ty Sanofi Aventis đã đưa vắc xin Viên não Nhật Bản Imojev thế hệ mới về Việt Nam và chính thức cung ứng ra ngoài thị trường từ tháng 6/2019. Imojev là vắc xin Viêm não Nhật Bản sống, giảm độc lực tái tổ hợp mang nhiều ưu điểm nổi trội về lịch tiêm. Trẻ chỉ cần tiêm 2 liều với 1 liều cơ bản từ 9 tháng tuổi và tiêm nhắc lại sau 12-24 tháng.

Với những đặc tính trên trẻ sẽ được bảo vệ sớm hơn và số liều tiêm nhắc ít hơn giúp trẻ nhanh chóng hoàn thành lịch tiêm. Từ những cơ sở đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích thực trạng việc tiêu thụ vắc xin viêm não Nhật Bản trong tiêm chủng dịch vụ tại Hải Phòng năm 2019-2020” Với hai mục tiêu thực hiện: 1. Mô tả cơ cấu vắc xin VNNB tiêu thụ tại Hải Phòng trong tiêm chủng dịch vụ năm 2019-2020. Phân tích nhu cầu tiêm chủng vắc xin viêm não Nhật Bản Imojev tại Hải Phòng.

Tổng quan về bệnh và vắc xin viêm não Nhật Bản 1. Dịch tễ học của bệnh viêm não Nhật Bản Viêm não Nhật Bản là căn bệnh gây ra bởi vi rút thuộc họ flavvirus và lây truyền qua muỗi. Theo tổ chức Y tế thế giới, bệnh viêm não Nhật Bản rất phổ biến ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương với khoảng 3 tỷ người tại 24 quốc gia ở vùng này có nguy cơ mắc bệnh. Ước tính hàng năm có khoảng 68.000 người mắc bệnh viêm não Nhật Bản với tỷ lệ tử vong và di chứng cao.

Bệnh thường gặp nhất ở trẻ dưới 15 tuổi tại vùng có dịch lưu hành như Việt Nam. Hiện nay có 3 mô hình lưu hành bệnh viêm não Nhật Bản chính [5]. • Vùng lưu hành dịch là vùng xuất hiện bệnh thường xuyên quanh năm, chủ yếu ở các vùng có khí hậu nhiệt đới như miền nam Việt Nam, miền nam Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Indonesia… • Vùng khí hậu ôn đới, bệnh xuất hiện theo mùa như Nhật Bản, Đài Loan, phía nam nước Nga, miền bắc Trung Quốc… • Vùng cận nhiệt đới có mẫu hình dịch bệnh hỗn hợp giữa 2 vùng trên như miền bắc Việt Nam, miền bắc Thái Lan… Nguồn bệnh viêm não Nhật Bản là loài chim, lợn thông qua vai trò truyền bệnh của muỗi Culex sẽ lây nhiễm vi rút cho các đối tượng người và súc vật. Chim mang vi rút VNNB sẽ phân tán trên toàn cầu khi di trú theo mùa hoặc khi kiếm ăn nhưng không có biểu hiện bệnh.

Tại Việt Nam, một số nhóm chim sống ở làng mạc như bông lau, rẻ quạt… hay chim sống ngoài đồng như cu cu, chim gáy… có mang vi rút gây bệnh viêm não Nhật Bản. Muỗi Culex sống ở các vùng trồng lúa nước nhiều như Việt Nam đóng vai trò trung gian truyền bệnh rất quan trọng. Muỗi có đặc điểm đốt động vật vào ban đêm và khi đốt chim nhiễm vi rút, muỗi sẽ nhiễm vi rút suốt đời và truyền qua thế hệ sau. Do vậy, nguồn bệnh VNNB luôn tồn tại trong tự nhiên.

3 Người bị muỗi nhiễm vi rút đốt sẽ nhiễm bệnh và có kháng thể suốt đời nhưng vi rút không nhân lên trong cơ thể người mạnh như ở loài chim hay lợn, do vậy sẽ không có sự lây truyền bệnh từ người sang người [5] Muỗi đốt vật chứa virus (heo & chim) & bị nhiễm vi rút VÒNG PHÁT TÁN VI RÚT Muỗi lây truyền virus sang người Muỗi lây truyền vi rút sang động vật Hình 1.1 Vòng phát tán của vi rút Hiện nay, bệnh VNNB có thể lan truyền đến các vùng địa lý mới do nhiều yếu tố như sau: chim di trú, hiện tượng ấm lên toàn cầu làm muỗi phát triển mạnh và sinh sản nhiều, buôn bán động vật. Đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm não Nhật Bản Trong khoảng 200-300 ca bệnh VNNB sẽ có 1 ca bệnh có biểu hiện lâm sàng điển hình với các đặc điểm như sau: • Sau khi bị muỗi đốt, bệnh nhân có thời gian ủ bệnh từ 5-15 ngày, trung bình khoảng 1 tuần. • Giai đoạn khởi phát kéo dài 1-4 ngày: bệnh nhân bắt đầu có biểu hiện bệnh như sốt cao trong vòng 24 giờ và một số biểu hiện khác như mệt mỏi, đau mỏi người, thay đổi tính cách, hay cáu gắt. 4 • Giai đoạn toàn phát, kéo dài 1-2 tuần: ngoài sốt cao 39-400C, bệnh nhân bắt đầu thay đổi ý thức, nếu không được phát hiện điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ đi vào hôn mê.

Ngoài ra, xuất hiện các dấu hiệu thần kinh như người co giật, liệt [24]. Ngoài thể điển hình, bệnh còn có các thể lâm sàng khác như thể hành tủy, thể thô sơ… và đáng lo ngại nhất là thể tối cấp, bệnh nhân có thể tử vong chỉ trong vòng 1 – 2 ngày. Cho đến nay, việc điều trị vẫn gặp nhiều khó khăn do không có phương pháp điều trị đặc hiệu, chủ yếu là chăm sóc bệnh nhân, sử dụng thuốc hạ sốt, chống phù não… Bệnh nhân có tiên lượng xấu, tỷ lệ tử vong cao khoảng 30%. Cho đến nay, có thể giảm tỷ lệ tử vong xuống khoảng 11% nếu làm việc tích cực.

Tuy nhiên, 50% trường hợp sống sót sẽ có di chứng rất nặng nề, như nằm liệt giường, mất ý thức hoàn toàn, liệt…Các trường hợp còn lại bênh nhân có thể có di chứng nhẹ hơn như nói ngọng, mất khả năng học tập, đi lại khó khăn, thay đổi tính cách, có thể bị bố mẹ bỏ rơi… Tại Việt Nam, bệnh VNNB đã lưu hành trong cả nước. Bệnh có đỉnh xuất hiện cao nhất vào tháng 6 ở miền Bắc và rải rác quanh năm ở miền Nam. Các ổ dịch tập trung ở các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, vùng trồng lúa nước. Tuy nhiên, hiện nay bệnh đã xuất hiện cả các tỉnh miền núi và tiếp tục lan rộng.

Mặc dù số ca bệnh ở Việt Nam đã giảm sau khi thực hiện Chương Trình Tiêm Chủng Mở Rộng (CTTCMR), hiện vẫn còn khoảng 200-300 ca bệnh hàng năm. Những trường hợp mắc bệnh thường do không tiêm phòng, tiêm chưa đủ liều hoặc tiêm chưa đúng. Bên cạnh đó, do việc tiêm chủng mở rộng chỉ áp dụng cho trẻ dưới 5 tuổi nên bệnh có xu hướng dịch chuyển sang nhóm tuổi lớn hơn. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là sử dụng vắc xin [24].

Khuyến cáo tiêm phòng vắc xin viêm não Nhật Bản Quá trình hình thành dịch bệnh gồm 3 yếu tố: nguồn truyền nhiễm, đường truyền nhiễm và khối cảm nhiễm. Do vậy để phòng chống bệnh VNNB, cần phải 5 tác động vào các yếu tố này. Tuy nhiên, việc cắt đứt đường lây truyền từ muỗi hay vệ sinh chăn nuôi, nuôi chuồng trại xa nhà chỉ mang tính lý thuyết và giá trị thực tiễn rất khó khăn. Từ đó, chiến lược quan trọng nhất và hiệu quả nhất để phòng bệnh VNNB là biện pháp tiêm vắc xin ở người.

Các khuyến cáo chung của WHO về tiêm phòng vắc xin VNNB vào năm 2015 như sau: “Nên đưa tiêm phòng VNNB vào lịch tiêm chủng quốc gia ở những nơi mà VNNB được coi là vấn đề ưu tiên về sức khỏe cộng đồng. Thậm chí ở những nơi có số ca bệnh thấp, vẫn nên tiêm vắc xin nếu ở đó có môi trường thuận lợi cho sự lây truyền bệnh VNNB (vùng có nhiều động vật là ổ chứa vi rút, nhiều vector truyền bệnh). Chiến lược tiêm phòng hiệu quả nhất trong vùng dịch tễ VNNB là chiến dịch 1 lần tiêm cho đối tượng nguy cơ cao (dưới 15 tuổi), sau đó duy trì tiêm vắc xin VNNB trong CTTCMR thường xuyên ở trẻ em. Để khống chế bệnh VNNB cần đạt và duy trì tỷ lệ tiêm phòng vắc xin VNNB cao trong cộng đồng.

Tỷ lệ tiêm vắc xin cao sẽ giúp loại trừ được bệnh cho người mặc dù sự lưu hành của vi rút vẫn tiếp diễn trong tru trình tự nhiên. Theo khuyến cáo chung, các loại vắc xin đưa vào CTTCMR cần đạt tỷ lệ 90% trong đó có VNNB. Nếu tỷ lệ thấp, sẽ có nguy cơ bùng bổ dịch. Trong nhiều năm qua, ở Việt Nam không có dịch lớn nhờ vào tỷ lệ tiêm phòng cao.

Đây là thành công lớn của chương trình phòng chống VNNB thông qua CTTCMR.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ