Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ HOA CHO TRẺ 5-6 TUỔI 1. Hoa Theo Nguyễn Bá, hoa là cơ quan sinh sản của thực vật Hạt kín. Trong hoa có nhị đực, lá noãn, và các lá không sinh sản tạo thành bao hoa gồm đài và tràng. Các thành phần của hoa từ gốc cho tới đỉnh gồm lá đài, cánh hoa, bộ nhị đực, bộ nhị cái được xếp thành từng vòng và đính trên đế hoa [2, tr.
Từ đó, ông cho rằng hoa là một chồi rút ngắn, sinh trưởng có hạn, mang những lá bào tử là nhị đực và lá noãn; trong trường hợp điển hình có mang những lá không sinh sản là đài và tràng tạo thành bao hoa. Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, hoa là cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín, thường có màu sắc và hương thơm [20, tr. Vậy, hoa là một chồi đặc biệt, sinh trưởng có hạn, gồm cuống hoa, đế hoa và những lá biến thái là đài, tràng hoa (cánh hoa), nhị và nhụy làm chức năng sinh sản cho cây. Biểu tượng Có rất nhiều tác giả thuộc các ngành khoa học khác nhau quan tâm, nghiên cứu về biểu tượng, đứng ở mỗi góc độ họ lại có cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm này.
Theo Từ điển Tiếng Việt của tập thể cán bộ ngôn ngữ học biên soạn, Hoàng Phê làm chủ biên. Biểu tượng được hiểu như sau: + Thứ nhất: Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng. + Thứ hai: Biểu tượng là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật cờn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt. Dựa vào cơ sở sinh lý học có thể khẳng định: Biểu tượng được hình thành khi sự vật hiện tượng trước đây tác động vào giác quan tạo ra những đường liên hệ thần kinh tạm thời để lại những dấu vết trong vỏ não.
Do đó, biểu tượng được xây đựng trên cơ sở tri giác. Nếu không có tri giác biểu tượng không thể hình thành được [16, tr. Theo quan điểm của các nhà triết học duy vật biện chứng Mác - Lênin thì: “Biểu tượng là một hình ảnh của khách thể đã được tri giác còn lưu lại 6 trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện, nhớ lại". Biểu tượng cũng như cảm giác, tri giác “là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” nhưng khác với cảm giác và tri giác, biểu tượng phản ánh khách thể một cách gián tiếp, là “hình ảnh của hình ảnh”.
Ngoài ra, bằng tưởng tượng từ những biểu tượng cũ, con người có thể sáng tạo ra những biểu tượng mới. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: A. Liublinxkaia coi “Biểu tượng là những hinh ảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng nảy sinh ra trong óc khí không có sự tác động trực tiếp vào các giác quan”.X Mukhina coi “Biểu tượng là hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật, hiện tượng đã tri giác trước” [31, tr.6] Những định nghĩa và quan niệm trên cho thấy BT được coi như sản phẩm của quá trình ghi nhớ vả tưởng tượng. Điểm chính của BT là sự xâm nhập giữa tính trực quan vả tính khái quát, nếu BT được coi là quá độ giữa hình tượng vả khái niệm, là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính.
BT là kết quả của sự chế biến và tổng hợp được hình thành do tri giác tạo ra. Thiếu tri giác, BT không thế hình thành được. Biểu tượng có những đặc điểm khác với hình tượng tri giác. Hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc điểm cụ thể của sự vật, giống như hình tượng của tri giác.
Nhưng nó có khái quát qua nhiều lần tri giác trong những điều kiện khác nhau, ở những thời điềm khác nhau. Tuy nhiên, biểu tượng chỉ tái hiện lại những đặc điểm cơ bản, gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa đối với hoạt động của trẻ, bỏ đi những chi tiết ngẫu nhiên, rườm rà. Như vậy, biểu tượng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát. Biểu tượng có những khác biệt rất căn bản với khái niệm, biểu tượng phản ánh những đặc điểm cụ thể, bên ngoài, đặc trưng, trực quan, của sự vật, hiện tượng.
Khái niệm phán ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt các sự vật, hiện tượng cùng loại. Các khái niệm kết hợp chặt chẽ với nhau cho phép từ tri thức này suy ra tri thức kia. Các biểu tượng vốn có ở trẻ không tự nhiên biến thành khái niệm. Chúng chỉ có thể được sứ dụng khi hình thành khái niệm [31, tr.
Tóm lại, biểu tượng những hình ảnh cụ thể về sự vật, hiện tượng mà con người đã tri giác trước đây, là hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan, cảm tính trong não người. Biểu tượng về hoa Hoa chứa đựng nhiều thông tin, trẻ mầm non có thể thu thập những thông tin sau để hiểu biết về hoa: Về đặc điểm, hoa có nhiều màu sắc, hình dạng cánh, kiểu cành/cuống, thơm hoặc không thơm… Về cấu tạo, hoa gồm cuống hoa, đế hoa, đài, cánh hoa, nhị và nhụy. Mỗi bộ phận có chức năng riêng, giúp hoa sinh trưởng, phát triển và thực hiện được chức năng sinh sản. Về quá trình phát triển từ nụ đến sự nở hoa: chồi nụ, nụ non, nụ sắp nở, nở hé (một số cánh hoa hé mở, nhiều cánh còn bao kín nhị và/hoặc nhụy), nở hết (mở rộng các cánh hoa, để lộ nhị, nhụy), hoa tàn.
Về thời điểm nở: tùy mỗi loại hoa có thời điểm nở khác nhau (ánh sáng ngày-đêm, theo mùa) Về nơi sống: cây hoa sống ở đất, cây hoa sống ở nước… Về tác dụng: hoa làm cảnh, hoa làm thức ăn, hoa làm thuốc… Cách chăm sóc, bảo vệ hoa… Vậy, khái niệm biểu tượng về hoa cần hình thành ở trẻ có thể hiểu như sau: Biểu tượng về hoa là những hình ảnh cụ thể về đặc điểm, cấu tạo, chức năng, sự phát triển, thời điểm nở, nơi sống, ích lợi hoặc tác hại của hoa và cách chăm sóc, bảo vệ hoa được lưu giữ trong đầu óc trẻ. Trò chơi học tập TCHT thuộc nhóm trò chơi có luật, thường là do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ. TCHT có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian và trong trò chơi có chứa đựng các yếu tố dạy học TCHT khác với các loại trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong trò chơi đòi hỏi trẻ phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng chúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị và chính điều đó nâng cao tính tích cực nhận thức ( TTCNT) của trẻ. TCHT khác với “ tiết hoc” ở chỗ, trong TCHT, nhiệm vụ nhận thức không đặt ra một cách trực tiếp và công khai trước trẻ mà nằm trong nhiệm vụ chơi và hành động chơi đòi hỏi trẻ tích cực huy động những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của mình để đạt được kết quả mà trò chơi đặt ra.
8 “ Tiết học – trò chơi” là hình thức dạy học bằng các trò chơi, giáo viên sử dụng TCHT làm phương tiện để dạy học, giúp trẻ lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới. Việc dạy học cho trẻ mẫu giáo bằng các TCHT đã tạo cho chúng ta khả năng giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới hình thức nhẹ nhàng không bị áp đặt. Khi chơi, trẻ sử dụng lặp đi lặp lại các hành động chơi và vận dụng vốn kinh nghiệm, sử dụng hiểu biết của mình để thực hiện nhiệm vụ như luật chơi mà trò chơi yêu cầu. Chính điều này tạo điều kiện cho trẻ lĩnh hội những tri thức và kĩ năng [12, tr.
Trò chơi học tập (TCHT) là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được thực hiện dưới hình thức nhiệm vụ chơi vui vẻ, thoải mái [29, tr. Khi chơi trò chơi học tập, trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập như một nhiệm vụ chơi, do đó nâng cao tính tích cực của hoạt động nhận thức trong lúc chơi. Thiết kế trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tượng về hoa cho trẻ 5-6 tuổi Thiết kế (danh từ) chỉ một sự xác định trừu tượng về (những) thứ được tạo ra, hoặc (động từ) chỉ quá trình tạo ra và sẽ được làm rõ trong ngữ cảnh nhất định. Về cơ bản, thiết kế bao hàm sự vật, hiện tượng, hành động có liên quan đến sáng tạo [35].
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm thiết kế theo ý nghĩa của một động từ. Từ các khái niệm biểu tượng, biểu tượng về hoa, thiết kế, đề tài xác định khái niệm “thiết kế trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tượng về hoa cho trẻ 5-6 tuổi” như sau: Thiết kế trò chơi học tập nhằm HTBT về hoa cho trẻ 5-6 tuổi là hoạt động sáng tạo của GVMN trong việc tạo ra những trò chơi có luật mà sau khi thực hiện nhiệm vụ chơi, trẻ có được những hình ảnh cụ thể về đặc điểm, cấu tạo, chức năng, sự phát triển, thời điểm nở, nơi sống, ích lợi hoặc tác hại của hoa và cách chăm sóc, bảo vệ hoa lưu giữ trong đầu óc trẻ. LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ HOA CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 1. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi về hoa Trẻ MN tiếp thu kiến thức về MTXQ nói chung và hình thành BT về hoa nói riêng, hình thành cho bản thân những kĩ năng nhận thức và kĩ năng xã hội theo nhiều cách khác nhau.
Khi mới được sinh ra trẻ chưa có biểu tượng gì về thế giới khách quan, hoa. Trẻ nhận thức thế giới các loài hoa chủ yếu thông qua những tiếp xúc 9 trực tiếp với các loài hoa bằng các giác quan. Sử dụng thị giác, trẻ có hiểu biết về hình dáng, màu sắc, cầu tạo bên ngoài của hoa. Sử dụng xúc giác, trẻ có hiểu biết về độ nặng - nhẹ, cứng – mềm, độ trơn nhẵn,.
; khứu giác và vị giác giúp trẻ nhận biết, phân biệt được mùi hoa. Khi sử dụng đầy đủ các giác quan để tri giác đối tượng trẻ sẽ nhận thức BT đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn Học theo cách này, trẻ lĩnh hội được những kiến thức về các đặc điểm bên ngoài rõ nét của sự vật, hiện tượng.