Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nhân viên y tế (NVYT) là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, tuy nhiên họ luôn phải đối mặt với các nguy cơ nhiễm khuẩn nghề nghiệp, đặc biệt là nguy cơ phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền qua đường máu thông qua các tổn thương do vật sắc nhọn (VSN). Tai nạn thương tích nghề nghiệp (TNTTNN) do VSN là một trong những vấn đề sức khỏe nghề nghiệp nghiêm trọng trong ngành y tế. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2002), số tổn thương do VSN trung bình ở NVYT dao động từ 0,2 đến 4,7 lần/người/năm. Tại Hoa Kỳ, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) ước tính có khoảng 384.325 NVYT tiếp xúc với máu và dịch cơ thể mỗi năm qua niêm mạc và vết thương do VSN.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tại nhiều bệnh viện cho thấy tỷ lệ NVYT bị TNTTNN do VSN trong vòng 12 tháng ở mức cao: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (77,0%), Bệnh viện Bạch Mai (68,0%), Bệnh viện Xanh Pôn (58,1%), Bệnh viện Phụ sản Trung ương (54,0%), Bệnh viện Thanh Nhàn (68,7%), Trung tâm Y tế Đông Anh (85,2%) và Bệnh viện Tràng An (50%). Các tổn thương này làm tăng nguy cơ phơi nhiễm và lây truyền ba tác nhân bệnh đường máu chính gồm virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV) và virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). CDC (2001) ước tính trong 35 triệu NVYT toàn cầu, hàng năm có 3 triệu người tiếp xúc với mầm bệnh qua đường máu (2 triệu người tiếp xúc HBV, 0,9 triệu người tiếp xúc HCV và 17.000 người tiếp xúc HIV). Nguy cơ lây nhiễm sau phơi nhiễm ở các nước đang phát triển ước tính khoảng 40% đối với HBV, 3 - 10% đối với HCV và 0,2 - 0,5% đối với HIV. Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm có 55,8 ca nhiễm mới HBV và 0,22 ca nhiễm mới HIV trong NVYT do tổn thương nghề nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Mô tả thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp do vật sắc nhọn trong nhân viên y tế trên thế giới và tại Việt Nam.
- Mô tả thực trạng lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn trong nhân viên y tế.
- Đề xuất một số biện pháp phù hợp nhằm làm giảm nguy cơ tai nạn thương tích do vật sắc nhọn và những biện pháp làm giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu trong nhân viên y tế.
- Đối tượng nghiên cứu: Các tài liệu khoa học, báo cáo dịch tễ, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về TNTTNN do VSN và nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu (HBV, HCV, HIV) trong NVYT.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn cầu và Việt Nam, ưu tiên các tài liệu công bố dưới dạng toàn văn từ năm 2005 đến năm 2015 (chiếm trên 50% tổng số tài liệu tham khảo), được thực hiện tại Trường Đại học Y tế công cộng vào năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên các cơ sở pháp lý, khung định nghĩa chuẩn quốc gia và quốc tế về an toàn vệ sinh lao động và kiểm soát nhiễm khuẩn:
- Khái niệm TNTTNN và Bệnh nghề nghiệp: Căn cứ Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN về hướng dẫn khai báo, điều tra tai nạn lao động; Thông tư liên tịch số 08/1998/TTLT-BYT-LĐTBXH về hướng dẫn quy định bệnh nghề nghiệp và quy chế bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.
- Khái niệm VSN và phơi nhiễm nghề nghiệp: Theo Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Y tế (2012), vật sắc nhọn là bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da (kim tiêm, đầu kim truyền, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn, đầu dây nẹp nha khoa). Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) chứa tác nhân gây bệnh trong khi NVYT thực hiện nhiệm vụ.
- Tác nhân gây bệnh đường máu: Cơ chế lây truyền, thời gian ủ bệnh và biểu hiện lâm sàng của virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV) và HIV/AIDS.
Phương pháp nghiên cứu thực tế là tổng quan tài liệu y văn (literature review) kết hợp phân tích, tổng hợp số liệu thứ cấp:
- Nguồn dữ liệu: Cơ sở dữ liệu điện tử y học trực tuyến quốc tế (PubMed, ScienceDirect), trang thông tin của các tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý (WHO, CDC, Bộ Y tế Việt Nam), Thư viện Trường Đại học Y tế công cộng, Thư viện Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, cùng các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Y tế Công cộng và Tạp chí Y học Thực hành.
- Từ khóa tìm kiếm: Tiếng Việt (Tai nạn thương tích nghề nghiệp do vật sắc nhọn, tiêm an toàn, HIV nghề nghiệp, viêm gan B nghề nghiệp, bệnh viêm gan C) và tiếng Anh (Occupational accidents in health care workers, occupational exposures to blood and risk of HIV, HBV, HCV, needlestick and sharp injuries).
- Tiêu chuẩn chọn và loại trừ: Thu nhận các tài liệu bằng tiếng Việt và tiếng Anh có đầy đủ thông tin tác giả, công bố toàn văn từ nguồn tin cậy; loại bỏ các bài viết không rõ nguồn gốc, tài liệu bằng ngôn ngữ khác hoặc không truy cập được toàn văn.
- Quy trình tổng hợp và quản lý dữ liệu: Tìm kiếm ban đầu thu được 105 tài liệu (100 tài liệu điện tử và 5 tài liệu thư viện). Sau quá trình sàng lọc (loại 16 tài liệu thiếu độ tin cậy, 5 tài liệu khác ngôn ngữ, 15 tài liệu không có toàn văn), tác giả giữ lại 69 tài liệu chính thức (gồm 35 tài liệu tiếng Anh và 34 tài liệu tiếng Việt). Toàn bộ dữ liệu được quản lý bằng phần mềm EndNote phiên bản X7.
Nội dung chính theo từng phần nghiên cứu
Thực trạng tai nạn thương tích nghề nghiệp do vật sắc nhọn trong nhân viên y tế
Trên thế giới, tỷ lệ tổn thương do VSN ở NVYT diễn ra phổ biến. Tại Hoa Kỳ, CDC ước tính có 385.000 vụ thương tích do kim tiêm hoặc VSN mỗi năm trong bệnh viện (tương đương 1.000 ca/ngày). Các nghiên cứu tại nhiều quốc gia ghi nhận tỷ lệ tổn thương cao: Trung Quốc đạt 72,7% ở nhân viên điều dưỡng; Pháp ghi nhận 52% NVYT phơi nhiễm; Nhật Bản (2006) ghi nhận 46% điều dưỡng bị thương tích; Thổ Nhĩ Kỳ (2014) ghi nhận 29% NVYT bị kim đâm trong tổng số 65,9% NVYT có tiếp xúc máu và dịch cơ thể. Điều dưỡng là nhóm có tần suất tai nạn cao nhất, chiếm tới 72% tổng số vụ TNTTNN do VSN theo báo cáo của CDC (2004). Về hoàn cảnh xảy ra tổn thương, ước tính năm 2007 của CDC chỉ ra rằng 61% tổn thương liên quan đến kim tiêm, trong đó 50% xảy ra sau khi sử dụng hoặc trước khi hủy kim, 25% xảy ra khi chăm sóc trực tiếp và 20% xảy ra khi thao tác dụng cụ. Dụng cụ gây tổn thương hàng đầu là bơm kim tiêm dùng 1 lần (32%) và kim khâu (19%).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2012 phản ánh tỷ lệ TNTTNN do VSN ở mức báo động trong các cơ sở y tế:
| STT |
Tác giả / Năm công bố |
Tỷ lệ NVYT bị TNTTNN do VSN (%) |
Đối tượng có nguy cơ cao nhất (%) |
| 1 |
Phạm Thị Xuân, Trương Đình Khoa (2010) |
43,6 |
Điều dưỡng (46,9%), Nữ hộ sinh (42,1%), Kỹ thuật viên (25,0%) |
| 2 |
Nguyễn Bích Diệp, Nguyễn Thị Hồng Tú (2010) |
46,0 |
Điều dưỡng (54,7%), Hộ lý (45,9%), Bác sĩ (45,0%), Kỹ thuật viên (44,6%) |
| 3 |
Hà Thế Tấn (2010) |
48,0 |
Y tá và Kỹ thuật viên (53,2%), Bác sĩ (47,4%), Y công (40,0%) |
| 4 |
Trương Thị Ngọc Lan (2011) |
27,7 |
Điều dưỡng và Kỹ thuật viên (98,0%), Hộ lý (31,0%) |
| 5 |
Dương Khánh Vân (2012) |
64,8 |
Điều dưỡng/Y tá (19,0%), Y sĩ (11,1%), Bác sĩ (11,0%) |
Nghiên cứu của Hà Thế Tấn (2010) cho thấy tần suất tổn thương trung bình là 3,2 ± 4,7 lần/NVYT. Nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2012) chỉ ra 83,9% NVYT bị tổn thương dưới 5 lần/năm, và 9,9% bị từ 6 đến 10 lần/năm. Về thời gian, ca làm việc buổi sáng có tỷ lệ tai nạn cao nhất (55,0%) so với ca chiều (20,7%) và ca đêm (24,7%). Tỷ lệ tổn thương theo khoa phòng được thể hiện cụ thể:
| Khoa / Phòng |
Tuyến Huyện (%) |
Tuyến Tỉnh (n = 10.626) (%) |
Tuyến Trung ương (%) |
Tỷ lệ chung (n = 1.134) (%) |
| Cấp cứu, Gây mê hồi sức |
62,4 |
70,0 |
76,1 |
71,0 |
| Ngoại |
68,6 |
65,2 |
68,1 |
66,0 |
| Xét nghiệm |
59,6 |
56,2 |
43,6 |
53,8 |
| Giải phẫu bệnh, Pháp y |
68,9 |
49,1 |
51,2 |
51,0 |
| Nội, Nhi, Phòng khám |
41,9 |
47,6 |
53,9 |
47,9 |
| Truyền nhiễm |
48,9 |
39,3 |
43,5 |
41,1 |
| Tâm thần |
22,4 |
43,6 |
34,5 |
38,1 |
| Chung |
47,7 |
48,5 |
46,4 |
48,0 |
Về thao tác y tế, tiêm truyền là nguyên nhân hàng đầu gây tai nạn (46,0% - 49,2%), rửa dụng cụ (14,9%), thực hiện thủ thuật (14,0%), phẫu thuật (13,5% - 16,2%) và thu gom rác thải (8,8%). Vị trí tổn thương phổ biến nhất là bàn tay và ngón tay (94,5%), dạng tổn thương chủ yếu là xuyên thấu da (77,8%) và xước da (19,6%). Dụng cụ gây tổn thương nhiều nhất là kim tiêm dưới da (31,7%), kim có cánh (19,2%), kim khâu (16,0%) và kim lấy máu tĩnh mạch (15,0%). Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc thực hành tiêm không an toàn: chỉ 71,2% trong số 2.353 NVYT thực hiện đúng thao tác kỹ thuật; tỷ lệ không rửa tay trước khi tiêm là 4,7%, dùng hai tay đậy nắp kim chiếm 12,1% - 14,0%, không sát khuẩn trước tiêm là 34,3%, và chỉ có 59,68% trường hợp bỏ ngay bơm kim tiêm vào thùng kháng thủng sau khi sử dụng.
Thực trạng lây truyền các bệnh qua đường máu liên quan đến vật sắc nhọn
Tổn thương do VSN là đường lây truyền của khoảng 80% trường hợp nhiễm trùng HIV, HBV và HCV trong môi trường bệnh viện. Nghiên cứu của Hà Thế Tấn chỉ ra rằng nhóm NVYT từng bị tổn thương do VSN có tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm cao gấp 2,2 lần so với nhóm chưa từng bị tổn thương. Tại các khoa Cấp cứu, Gây mê hồi sức, Truyền nhiễm, Xét nghiệm và Giải phẫu bệnh, nguy cơ mắc bệnh ở nhóm có tổn thương VSN cao hơn từ 2,2 đến 4,6 lần.
- Thực trạng lây nhiễm HIV nghề nghiệp: Ca nhiễm HIV nghề nghiệp đầu tiên được phát hiện năm 1984 tại Châu Phi và năm 1986 tại Hoa Kỳ. Đến năm 2001, CDC ghi nhận toàn cầu có 104 ca chính thức được xác nhận nhiễm HIV do nghề nghiệp (Hoa Kỳ: 57 ca, Châu Âu: 35 ca) và 217 ca nghi ngờ phơi nhiễm. Trong đó, điều dưỡng là nhóm có số ca nhiễm và nghi nhiễm cao nhất (24 ca nhiễm và 35 ca nghi ngờ tại Mỹ). Tại Pháp, khảo sát 12 bệnh viện cho thấy lây nhiễm HIV qua tiếp xúc với máu khi tiêm chiếm 60%. Tại Việt Nam, số trường hợp phơi nhiễm HIV trong NVYT tăng dần: giai đoạn 1996 - 2000 có 200 trường hợp tiếp xúc rủi ro; 6 tháng đầu năm 2003 có 321 ca phơi nhiễm HIV trong 442 vụ TNTTNN; 6 tháng đầu năm 2005 tăng lên 764 ca và đạt 938 người vào cuối năm 2005. Hà Thế Tấn (2010) ghi nhận 286 ca phơi nhiễm HIV. Lê Văn Trung (2006) chỉ ra rằng nguy cơ lây nhiễm HIV nghề nghiệp ở y tá chiếm 69,3% (tiêm chích chiếm 75,6%, lấy máu chiếm 66,3%).
- Thực trạng lây nhiễm virus viêm gan B và C: Toàn cầu có 130 - 150 triệu người nhiễm HCV mạn tính (WHO, 2014), và phơi nhiễm nghề nghiệp đối với HCV ở NVYT chiếm khoảng 4%. Đối với HBV, WHO ước tính hàng năm có 2 triệu NVYT phơi nhiễm mầm bệnh qua đường máu, dẫn đến 70.000 ca mắc viêm gan B mới (90% tại các nước đang phát triển). Trong mỗi lần bị kim đâm, nguy cơ lây nhiễm HBV lên tới 30% - 40%, cao hơn nhiều so với HCV (3% - 10%) và HIV (0,2% - 0,5%). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Tú (2004 - 2006) trên 9.437 NVYT cho thấy tỷ lệ mang HBsAg(+) là 11,1%. Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh (2009) tại 13 cơ sở y tế chỉ ra: NVYT từng bị thương do VSN có nguy cơ mắc viêm gan B nghề nghiệp cao gấp 4,1 lần; tổn thương rách da chảy máu làm tăng nguy cơ mắc bệnh gấp 3,1 lần; và NVYT tiếp xúc trên 30 bệnh nhân/ngày có nguy cơ mắc HBV cao gấp 2,0 lần so với người tiếp xúc dưới 30 bệnh nhân/ngày.
Các biện pháp dự phòng lây nhiễm nghề nghiệp liên quan đến vật sắc nhọn
Khóa luận phân loại các biện pháp kiểm soát theo ba nhóm can thiệp:
-
Các biện pháp dự phòng chống lây nhiễm:
- Phòng ngừa chuẩn (Universal Precautions): Ban hành năm 1987 bởi CDC, gồm rửa tay/sát khuẩn tay, thao tác đúng quy cách, sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, xử lý chất thải/bơm kim tiêm đúng quy định, khử trùng và tiệt trùng thiết bị. CDC (2004) chứng minh phòng ngừa chuẩn mang lại hiệu quả bảo vệ 80%.
- Phòng ngừa bổ sung: Áp dụng cách ly theo đường lây truyền (không khí, giọt bắn, tiếp xúc) dựa trên nguyên tắc coi mọi mẫu máu và dịch cơ thể đều có khả năng lây nhiễm.
- Tạo miễn dịch chủ động: Tiêm vắc xin phòng viêm gan B cho NVYT có nguy cơ cao (điều dưỡng, bác sĩ, kỹ thuật viên).
-
Quản lý và xử trí chăm sóc sức khỏe sau phơi nhiễm:
- Xử trí tại chỗ: Vết thương chảy máu phải xối ngay dưới vòi nước, rửa bằng xà phòng và nước sạch, sát khuẩn bằng dung dịch sát khuẩn ít nhất 5 phút. Nếu dính niêm mạc (mắt, mũi, miệng), rửa hoặc súc bằng nước cất/dung dịch muối đẳng trương liên tục trong 5 phút.
- Báo cáo và lập biên bản: Ghi chép hoàn cảnh phơi nhiễm, bảo mật hồ sơ theo quy định Bộ Y tế.
- Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm:
| Tác nhân |
Phác đồ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm |
Quy trình theo dõi xét nghiệm |
| HIV |
Sử dụng thuốc kháng virus (ARV) ngắn ngày trong vòng 2 - 6 giờ đầu sau phơi nhiễm (hiệu quả giảm dần sau 24 - 48 - 72 giờ). |
Theo dõi lâm sàng, xét nghiệm HIV tại tuần thứ 6, tuần thứ 12 và tháng thứ 6 sau phơi nhiễm. Tư vấn dự phòng lây nhiễm tối thiểu 6 tháng. |
| Viêm gan B (HBV) |
Thực hiện trong vòng 24 giờ. Tiêm kháng huyết thanh và vắc xin HBV nếu nguồn phơi nhiễm có HBsAg(+) và NVYT chưa tiêm phòng hoặc không có đáp ứng miễn dịch. |
Xét nghiệm anti-HBs sau 1 - 2 tháng kể từ liều vắc xin cuối cùng. |
| Viêm gan C (HCV) |
Chưa có thuốc điều trị dự phòng đặc hiệu chuẩn hóa, phụ thuộc vào điều kiện chi trả và phác đồ can thiệp của cơ sở y tế. |
Xét nghiệm anti-HCV và men gan (ALT) sau 4 - 6 tháng; xét nghiệm HCV RNA ở tuần thứ 4 - 6 để chẩn đoán sớm. |
- Đào tạo và huấn luyện: Tổ chức tập huấn định kỳ cho NVYT mới tuyển dụng và đào tạo nhắc lại. Bằng chứng quốc tế từ Trung tâm Chất lượng Dịch vụ và An toàn tại London (2004) cho thấy đào tạo giúp giảm 72% số ca phơi nhiễm nghề nghiệp. Nghiên cứu tại 23 bệnh viện ở Pháp (2004) chứng minh việc can thiệp tổng thể (truyền thông, loại bỏ quy trình rủi ro, phòng ngừa chuẩn) đạt hiệu quả ngăn ngừa tới 92,4%.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Tổng hợp bức tranh toàn diện về tỷ lệ TNTTNN do VSN ở NVYT Việt Nam (dao động từ 27,7% đến 64,8% tùy tuyến điều trị), trong đó điều dưỡng và kỹ thuật viên là đối tượng chịu thương tổn cao nhất.
- Xác định các khoa phòng có nguy cơ tai nạn cao nhất là Cấp cứu - Gây mê hồi sức (71,0%), Ngoại (66,0%), Xét nghiệm (53,8%) và Giải phẫu bệnh - Pháp y (51,0%).
- Khẳng định tiêm truyền là thao tác gây tai nạn phổ biến nhất (chiếm gần 50%), và kim tiêm dưới da là công cụ gây thương tích nhiều nhất (31,7%).
- Chứng minh mối liên hệ dịch tễ học rõ rệt giữa tổn thương VSN với nguy cơ mắc các bệnh đường máu: NVYT từng bị thương do VSN có nguy cơ mắc HBV cao gấp 4,1 lần; nguy cơ lây truyền HBV sau mỗi lần kim đâm (30% - 40%) cao vượt trội so với HCV (3% - 10%) và HIV (0,2% - 0,5%).
Các giải pháp và khuyến nghị của tác giả
- Đối với các cơ sở y tế: Ban hành và giám sát chặt chẽ chính sách quản lý rủi ro TNTTNN; trang bị đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân và thùng kháng thủng đựng vật sắc nhọn; thiết lập hệ thống báo cáo, giám sát và quy trình can thiệp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm kịp thời; tăng cường tập huấn thực hành tiêm an toàn và phòng ngừa chuẩn cho NVYT.
- Đối với nhân viên y tế: Nghiêm túc chấp hành quy trình tiêm an toàn, tuyệt đối không dùng hai tay đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng; tuân thủ mang bảo hộ lao động; chủ động tiêm vắc xin phòng viêm gan B; chủ động khai báo trung thực ngay khi gặp sự cố phơi nhiễm để được xử trí y tế trong "thời gian vàng".
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã tổng hợp có hệ thống các bằng chứng khoa học trong và ngoài nước từ 69 công trình nghiên cứu, làm rõ gánh nặng bệnh tật do VSN gây ra cho nhân viên y tế trong bối cảnh Việt Nam giai đoạn 2000 - 2015 còn thiếu các nghiên cứu tổng thể quy mô lớn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài là nghiên cứu tổng quan tài liệu thứ cấp, phụ thuộc vào các công trình đã xuất bản. Số liệu về các ca nhiễm HIV nghề nghiệp chính thức tại Việt Nam còn sơ sài do chưa có công bố xác nhận đầy đủ, phần lớn chỉ dừng lại ở số liệu phơi nhiễm. Các nghiên cứu được tổng hợp có sự khác biệt về cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu và tiêu chí thống kê tại các tuyến bệnh viện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần triển khai các nghiên cứu theo dõi dọc (cohort study) trên quy mô toàn quốc để đánh giá chính xác tỷ lệ mới mắc bệnh nghề nghiệp do VSN; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giám sát tai nạn phơi nhiễm nghề nghiệp trong ngành y tế; đánh giá hiệu quả can thiệp của các loại bơm kim tiêm tự khóa/có cơ chế bảo vệ an toàn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Điều dưỡng, Quản lý bệnh viện, An toàn vệ sinh lao động và Kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Phần nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Hệ thống dữ liệu dịch tễ học về tỷ lệ tổn thương theo khoa phòng và thao tác lâm sàng, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng bài giảng an toàn lao động y tế.
- Sơ đồ hóa các bước xử trí vết thương tại chỗ và bảng hướng dẫn điều trị dự phòng, xét nghiệm theo dõi sau phơi nhiễm HIV, HBV, HCV, có thể dùng làm tài liệu tra cứu nhanh tại phòng kiểm soát nhiễm khuẩn của các bệnh viện.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nhân viên điều dưỡng lại là đối tượng có tỷ lệ tai nạn thương tích do vật sắc nhọn cao nhất trong bệnh viện?
Theo các nghiên cứu được tổng hợp trong khóa luận (CDC 2004 ghi nhận điều dưỡng chiếm 72% tổng số tai nạn), điều dưỡng là nhóm trực tiếp thực hiện phần lớn các thao tác chăm sóc người bệnh với tần suất sử dụng vật sắc nhọn rất cao, đặc biệt là các kỹ thuật tiêm thuốc, truyền dịch và lấy mẫu máu xét nghiệm.
2. Nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh qua đường máu sau một tổn thương do kim đâm giữa HBV, HCV và HIV khác nhau như thế nào?
Nguy cơ lây truyền có sự chênh lệch rất lớn giữa các loại virus: nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B (HBV) là cao nhất, dao động từ 30% đến 40% (ở các nước đang phát triển có thể lên đến 40% - 65%); nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan C (HCV) từ 3% đến 10%; trong khi nguy cơ lây nhiễm virus HIV thấp nhất, từ 0,2% đến 0,5%.
3. Những sai sót kỹ thuật phổ biến nhất nào của nhân viên y tế dẫn đến tai nạn thương tích do vật sắc nhọn?
Các sai sót kỹ thuật chính được ghi nhận trong văn bản gồm: thói quen dùng hai tay đậy lại nắp kim tiêm sau khi làm thủ thuật (chiếm từ 12,1% đến 14,0%), không rửa tay trước khi tiêm (4,7%), không sát khuẩn vị trí tiêm (34,3%) và không bỏ ngay bơm kim tiêm vào thùng kháng thủng sau khi sử dụng (chỉ có 59,68% trường hợp thực hiện đúng).
4. Thời gian vàng để can thiệp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HIV và HBV là bao lâu?
Đối với phơi nhiễm HIV, việc chỉ định dùng thuốc ARV phải được thực hiện kịp thời trong vòng 2 đến 6 giờ đầu sau tai nạn (hiệu quả bảo vệ giảm sút rõ rệt sau 24 - 48 - 72 giờ). Đối với phơi nhiễm HBV, việc tiêm kháng huyết thanh và vắc xin viêm gan B cần được thực hiện sớm trong vòng 24 giờ đầu sau phơi nhiễm.
5. Khoa phòng nào trong bệnh viện có tỷ lệ nhân viên y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn cao nhất?
Theo số liệu thống kê đa tuyến của Hà Thế Tấn (2010), khoa Cấp cứu - Gây mê hồi sức là nơi có tỷ lệ tổn thương cao nhất (71,0% chung, đạt 76,1% ở tuyến Trung ương), tiếp theo là khoa Ngoại (66,0%), khoa Xét nghiệm (53,8%) và khoa Giải phẫu bệnh - Pháp y (51,0%), do đặc thù công việc khẩn cấp, khối lượng thủ thuật lớn và áp lực công việc cao.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của cử nhân Lê Thị Dung đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng dịch tễ học về tai nạn thương tích nghề nghiệp do vật sắc nhọn cùng nguy cơ lây truyền HIV, HBV, HCV trong nhân viên y tế tại Việt Nam và trên thế giới. Kết quả tổng quan khẳng định tính cấp thiết của việc kiểm soát tiêm an toàn, áp dụng phòng ngừa chuẩn và xây dựng quy trình xử trí phơi nhiễm nghiêm ngặt tại các cơ sở y tế. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế.