CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Sức khỏe tâm thần Sức khỏe được coi là thước đo chung của một xã hội văn minh và là mục tiêu lớn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Kể từ khi thành lập, WHO đã đưa yếu tố tinh thần vào định nghĩa của sức khỏe.
Theo WHO, sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc ốm đau [12]. Có thể thấy sức khỏe tâm thần (SKTT) là một phần không thể thiếu của sức khỏe. Mặc dù có sự khó khăn khi đồng thuận một khái niệm do sự khác biệt quá lớn về giá trị giữa các quốc gia, nền văn hóa, tầng lớp và giới tính nhưng sức khỏe tâm thần có thể được khái niệm hóa mà không hạn chế cách giải thích của nó giữa các nền văn hóa [13]. WHO đã đưa ra định nghĩa sức khỏe tâm thần là “một trạng thái khỏe mạnh, giúp con người có thể đương đầu với những áp lực trong cuộc sống, nhận thức được khả năng của mình, học tập tốt và làm việc hiệu quả, cống hiến cho cộng đồng”[14].
Do vậy, đây không chỉ là trạng thái không có rối loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái. Để có trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái thì cần phải có chất lượng cuốc sống tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa các cá nhân, môi trường xung quanh và môi trường xã hội [14]. Năng lực sức khỏe tâm thần Nghiên cứu về năng lực sức khỏe tâm thần (NLSKTT) ngày nay không bị bó buộc trong một khuôn khổ bệnh viện điều trị về các bệnh tâm thần mà mở rộng ra cho cả cộng đồng. Sự phát triển của NLSKTT có thể được coi là xảy ra ở hai cấp độ: cấp độ cá nhân (thông qua tiếp xúc trực tiếp, với các cá nhân được nhắm mục tiêu cụ thể) và cấp độ y tế công cộng (thông qua tiếp xúc gián tiếp qua phương tiện truyền thông đại chúng, nhắm mục tiêu đến công chúng) [7].
Tuy vậy những lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến NLSKTT ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế trong sự phát triển mạnh mẽ của những nghiên cứu về sức khỏe thế chất. 3 Jorm và cộng sự (1997) đã đưa ra thuật ngữ “năng lực sức khỏe tâm thần” và định nghĩa nó là ‘kiến thức và niềm tin về các rối loạn tâm thần giúp một người nhận biết, quản lý hoặc phòng ngừa”. Theo báo cáo, NLSKTT bao gồm bảy thuộc tính: khả năng nhận biết các rối loạn cụ thể; biết cách tìm kiếm thông tin về sức khỏe tâm thần; kiến thức về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân; kiến thức về các phương pháp tự điều trị; kiến thức về trợ giúp chuyên nghiệp có sẵn; và các thái độ thúc đẩy sự công nhận và tìm kiếm sự giúp đỡ thích hợp [15]. Ngoài ra, đã có các cuộc thảo luận mở rộng định nghĩa của NLSKTT dựa trên định nghĩa của Jorm.
Theo đó, NLSKTT đã được định nghĩa là: hiểu làm thế nào để có được và duy trì sức khỏe tinh thần tích cực; hiểu các rối loạn tâm thần và các phương pháp điều trị; giảm kỳ thị liên quan đến rối loạn tâm thần; và nâng cao hiệu quả của việc tìm kiếm sự trợ giúp (biết khi nào và ở đâu để tìm kiếm sự giúp đỡ và phát triển các năng lực để cải thiện khả năng chăm sóc sức khỏe tâm thần và tự quản lý của một người). Định nghĩa này là sự mở rộng của các cấu trúc trước bao gồm khái niệm kỳ thị mà trước đây thường được xem xét riêng, và mở rộng khái niệm của Jorm về các chiến lược tự giúp đỡ sang cấu trúc rộng rãi hơn về hiệu quả tìm kiếm sự giúp đỡ [16]. Đặc điểm năng lực sức khỏe tâm thần của thai phụ trong bối cảnh COVID-19 1. Sức khỏe tâm thần của thai phụ trong bối cảnh COVID-19 COVID-19 là bệnh do một loại coronavirus mới có tên là SARS-CoV-2 gây ra.
Vào ngày 12 tháng 1 năm 2020, WHO xác nhận loại coronavirus mới này là nguyên nhân gây ra bệnh đường hô hấp ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc sau một báo cáo vào ngày 31 tháng 12 năm 2019 về một nhóm các trường hợp “viêm phổi do vi rút” ở Vũ Hán [17]. Từ 16-6-2020 đến 14-7- 2020, Michael Ceulemans và cộng sự thực hiện nghiên cứu đa quốc gia với phụ nữ mang thai và cho con bú được 3 tháng (có độ tuổi trên 18 tuổi) ở Ireland, Na Uy, Thụy Sĩ, Hà Lan và Anh đã tìm thấy mức độ cao của các triệu chứng trầm cảm và lo lắng tổng quát ở phụ nữ mang thai và cho con bú trong đợt bùng phát COVID-19 [18]. Nghiên cứu của Grumi trên 281 thai phụ vào đợt bùng 4 phát dịch bệnh đầu tiên ở miền Bắc nước Ý cho biết phụ nữ mang thai trong giai đoạn dịch có nguy cơ tăng trầm cảm đến 26% [19]. Một nghiên cứu phân tích tổng hợp tỷ lệ trầm cảm và lo lắng ở phụ nữ mang thai trong đại dịch COVID-19 trên toàn thế giới từ năm 2019-2021 cho kết quả tỷ lệ trầm cảm 25,6% trong 37 nghiên cứu; tỷ lệ lo lắng 30,5% trong 34 nghiên cứu; theo thời gian cho thấy tỷ lệ lo lắng cao hơn trong các nghiên cứu được thực hiện sau đại dịch [20].
Các chỉ số tâm lý tăng theo số trường hợp nhiễm vi rút được xác nhận hoặc tử vong hàng ngày [21] và cả hai triệu chứng lo âu và trầm cảm đều giảm khi các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng. Hơn nữa, các rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo lắng phổ biến hơn trong các giai đoạn chu sinh so với giai đoạn không mang thai ở các nước thu nhập thấp và trung bình [22]. Emily và cộng sự cho biết các triệu chứng trầm cảm và lo lắng tăng lên từ giai đoạn đầu đến giữa thai kỳ nhưng sau đó giảm nhẹ trên thai phụ ở Mỹ [23]. Các phát hiện trong các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sức khỏe tâm thần chu sinh trong đại dịch.
Tại Việt Nam, giai đoạn từ 3/2021 – 5/2021, Nguyễn Diệu Hằng và Trần Huỳnh Như đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên 82 thai phụ đến khám tại trung tâm y tế quận Hải Châu, Đà Nẵng về khảo sát tình trạng stress và các yếu tố liên quan đến stress của thai phụ. Các tác giả đã thống kê được 4 vấn đề chính gây stress cho phụ nữ có thai, đó là: (1) Stress về việc xác định vai trò người mẹ, (2) Stress gây ra bởi sự lo lắng về sức khỏe và sự an toàn của trẻ và mẹ, (3) Stress gây nên bởi thay đổi về ngoại hình và hoạt động thể chất, (4) Những yếu tố stress khác (môi trường chăm sóc trẻ và quan hệ vợ chồng). Kết quả: Tình trạng stress của thai phụ được đánh giá ở mức độ trung bình. Điều kiện sinh hoạt gia đình và số lần mang thai hiện tại có mối liên quan đến tình trạng stress của thai phụ (p < 0,01) [24].
Hay một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Tô Mai Xuân Hồng và Trần Thị Trúc Phương tiến hành trong giai đoạn 20/01/2021 – 20/4/2021 khảo sát về tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan trên 310 phụ nữ mang thai 3 tháng cuối đến khám tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Kết quả: Tỷ lệ phụ nữ mang thai giai đoạn ≥ 28 tuần có nguy có trầm cảm trước sinh chiếm 28,7% [25]. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến NLSKTT Nhiều người trong cộng đồng không thể nhận biết chính xác hay không hiểu ý nghĩa của các rối loạn tâm thần. Trong một nghiên cứu với mẫu đại diện là người dân Úc khi được hỏi về trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt, hầu hết đều nhận ra rằng có một số vấn đề về sức khoẻ tâm thần nhưng gọi đúng tên của rối loạn đối với trầm cảm là 39% và tâm thần phân liệt 27% [26].
Nghiên cứu cắt ngang trên 300 thai phụ nhằm tìm hiểu nhận thức và nhận thức về các vấn đề SKTT ở phụ nữ mang thai sống ở các vùng nông thôn miền nam Ấn Độ năm 2017. Bảng câu hỏi được chuẩn bị bởi các chuyên gia y học cộng đồng và tâm thần học. Trong 300 thai phụ, có 53,33% ở độ tuổi từ 18 đến 25, 33,33% ở độ tuổi từ 26 đến 30 và 10% ở độ tuổi trên 30. Kết quả 85,6% đối tượng thiếu nhận thức về các vấn đề SKTT khi mang thai.
Gần 42% cho rằng họ sẽ đến gặp một người chữa bệnh bằng đức tin để giải quyết các vấn đề SKTT; 88,66% không tin vào việc dùng thuốc nếu bị rối loạn tâm thần trong thai kỳ. Gần 96% báo cáo các vấn đề liên quan đến kỳ thị. 85% bà mẹ không biết các chương trình giáo dục SKTT và 97,3% số lần bác sĩ điều trị không hỏi về các triệu chứng sức khỏe tâm thần. Như vậy, phụ nữ mang thai sống ở vùng nông thôn miền nam Ấn Độ có nhận thức kém về các vấn đề SKTT.
Những lý do giống nhau là thiếu nhận thức, trình độ học vấn thấp, tình trạng kinh tế xã hội thấp, niềm tin và tập quán văn hóa, thiếu các dịch vụ SKTT và sự kỳ thị liên quan đến bệnh tâm thần [27]. Nghiên cứu đánh giá kiến thức về trầm cảm ở trẻ em gái và phụ nữ ở Tehran liên quan đến phòng ngừa và can thiệp hiệu quả để cải thiện trầm cảm vào năm 2017. Sử dụng bộ câu hỏi của Úc (Australian questionnaire), phỏng vấn qua điện thoại. Kết quả có 1023 nữ giới 16-68 tuổi hoàn thành bảng câu hỏi.
Hầu hết những người tham gia đều độc thân (63,8%), trên 35 tuổi (53,8%) với trình độ học vấn trên trung cấp (61,4%), trong số đó 41,6% thất nghiệp với thu nhập hàng tháng ≤ 25 triệu Rial. Ngoài ra, 58,9% người tham gia cho biết đã từng tiếp xúc với ai đó trong gia đình hoặc bạn thân của họ có vấn đề SKTT. 644 người (63,1%) lựa chọn bác sỹ tâm thần và nhà tâm lý học là những người giúp điều trị SKTT tốt nhất. Hai phương pháp hữu ích hỗ trợ điều trị SKTT được lựa chọn là thư giãn (79,6%) và nhận tư vấn (81,5%).