CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sản xuất nông nghiệp trong đó sản xuất rau đã có những sự phát triển vượt bậc trong nửa sau thế kỷ 20 nhằm đáp ứng cho sự bùng nổ dân số loài người. Nền nông nghiệp dựa vào hữu cơ đã từng bước và nhanh chóng chuyển sang nền nông nghiệp dựa vào hóa chất với lượng phân bón hóa học và hóa chất BVTV được sử dụng ngày càng nhiều. Đặc biệt, từ sau khi phát hiện và sản xuất được DDT năm 1939, các biện pháp BVTV truyền thống như biện pháp thủ công, lợi dụng thiên địch và thuốc thảo mộc ít được chú ý và nhanh chóng được thay thế bằng biện pháp hóa học.
Hiệu quả của biện pháp hóa học trong thâm canh và BVTV rất cao trong việc nâng cao và bảo vệ sản lượng cây trồng. Song, thâm canh cao kéo theo sự phá vỡ đa dạng sinh học cũng như những cân bằng sinh thái vốn có của nền nông nghiệp cổ truyền mà biểu hiện của nó là các dịch hại xuất hiện ngày càng phức tạp, năng suất cây trồng bấp bênh. Giá trị nông sản mất hàng năm do dịch hại được ước lượng gần đây là khoảng 30% sản lượng tiềm năng cảu cây trồng lương thực, cây lấy sợi và cây thức ăn gia súc, tương đương 300 tỷ đô la Mỹ hàng năm (Oudejeans, 1991) [25]. Sử dụng thuốc hóa học trên đồng ruộng nói chung và trên các ruộng rau nói riêng là một biện pháp tác động quan trọng của con người vào hệ sinh thái.
Thuốc hóa học không chỉ tác động đến dịch hại mà còn tác động rất lớn đến các thành phần sinh học và vô sinh khác trong hệ sinh thái như cây trồng, các sinh vật trung gian, các sinh vật có ích, đất đai, nước. Hàng loạt các hậu quả do việc sử dụng quá mức hóa chất BVTV đã xảy ra do sự phá vỡ cân bằng cũng như sự an toàn tự nhiên của hệ sinh thái như dịch hại kháng thuốc, xuất hiện nhiều dịch hại mới khó phòng trừ, nhanh tái phát dịch hại nguy hiểm, ô nhiễm môi trường và nông sản (Lê Trường, 1985) [6]. Theo tính toán của Pimentel và Greiner ở Đại học Cornel – Mỹ, nông dân chi 6,5 tỷ đô la đã làm giảm giá trị thiệt hại do dịch hại gây ra cho cây trồng là 26 tỷ đô la, tức là người nông dân thu được 4 đô la khi cứ 1 đô la chi cho thuốc BVTV. Tuy nhiên, nếu tính 8 tỷ đô la do ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng thuốc đến sức khỏe con người và môi trường thì thu nhập trên chỉ còn 2 đô la/ 1 đô la chi cho thuốc BVTV.
Hơn nữa, hầu hết các thuốc hóa học độc cao với con người và môi trường cũng như để lại tồn dư trong nông sản (Wayland, 1991). Tuy vậy, việc sử dụng thuốc BVTV ngày nay là yêu cầu tất yếu. Theo ý kiến của nhiều tác giả, nếu không dùng thuốc BVTV, sản lượng cây trồng trung bình bị mất khoảng 60-70%, không thể đáp ứng nổi thực phẩm cho con người hiện nay (Yeoh, 2002) [22]. Nếu không, để tồn tại, con người phải tăng 3 lần diện tích đất canh tác hiện nay, điều này không thể làm được (Marcus, 2004; Stephenson, 2003) [22], [29].
Đánh giá về sản xuất lương thực và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới, Stephenson đã kết luận: thuốc BVTV đã có vai trò chính trong việc tăng gấp 3 lần sản lượng lương thực PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 trong 50 năm qua; thuốc BVTV đã đem lại lợi ích cho con người và môi trường bằng việc giảm đói nghèo, tiết kiệm lao động, năng lượng hóa thạch, đất đai, góp phần hạn chế sự xâm lấn của nông nghiệp vào đất không phù hợp, kể cả đất hoang hóa mà nó không bền vững cho việc sử dụng mục đích nông nghiệp. Các cố gắng để giảm ở nơi và vào lúc ít có cơ hội cải thiện sản lượng lương thực vẫn cần được tiếp tục nhằm giảm thiểu rủi ro và đem lại lợi ích lớn hơn do sử dụng thuốc BVTV. Hiện đang có sức ép về việc tăng cường sử dụng thuốc BVTV trong các nước đang phát triển, song cần giáo dục và điều tiết nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó đến sức khỏe con người và môi trường (Stephenson, 2003) [29]. Do vậy, một trong các vấn đề mấu chốt cho nền nông nghiệp tiên tiến hiện nay mà ta thường gọi là nền nông nghiệp sinh thái là sử dụng thuốc BVTV một cách “khôn ngoan” nhất, sao cho năng suất và chất lượng cây trồng được giữ vững, lợi ích của người nông dân được nâng cao, đảm bảo an toàn cao nhất có thể với con người và môi trường.
Để đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm an toàn cho mình, về cơ bản, nông dân nói chung và người trồng rau nói riêng không thể quay lại nền nông nghiệp hữu cơ thuần túy, càng không nên kéo dài và làm trầm trọng thêm nền nông nghiệp dựa hẳn vào hóa học mà cần phải “đi giữa” hai nền nông nghiệp này một cách khôn ngoan nhất (Peet, 1999) [26]. Các kỹ thuật tiên tiến trong đó có thuốc BVTV cần được sử dụng một cách khoa học nhất trong một hệ thống quản lý hài hòa nhất (Nguyễn Văn Bộ, 2000) [14]. Khác với nhiều cây trồng khác, cây rau là cây trồng ngắn ngày với yêu cầu thâm canh và BVTV rất cao thuốc hóa học được sử dụng trên đơn vị diện tích cao hơn nhiều so với cây lúa. Hiện trạng dư lượng thuốc BVTV trong rau trong cả nước ta những năm gần đây rất đáng lo ngại.
Theo Nguyễn Trường Thành (2002) [13], khả năng quản lý việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng, trình độ sử dụng thuốc BVTV của người sản xuất rau ở nước ta nhìn chung còn rất hạn chế, có nguyên nhân sâu xa từ hệ thống canh tác nhỏ lẻ, manh mún từ lâu đời. Do vậy, về phương diện Nhà nước nói chung và tỉnh Phú Yên nói riêng, việc cải tiến quản lý sử dụng thuốc BVTV có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với ngành trồng rau mà đối với cả xã hội và môi trường sống. Giới thiệu chung về thuốc BVTV 1. Sinh vật gây hại, thuốc BVTV và một số khái niệm liên quan Khái niệm sinh vật gây hại Sinh vật gây hại là sinh vật gây ra thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đối với thực vật bao gồm vi sinh vật gây bệnh, côn trùng gây hại, cỏ dại và các sinh vật có hại khác [15].
Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật Thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc [15]. Thuốc bảo vệ thực vật kỹ thuật là sản phẩm có hàm lượng hoạt chất cao, đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định được dùng để sản xuất thuốc thành phẩm [15]. Hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc thành phần hữu hiệu có hoạt tính sinh học của thuốc bảo vệ thực vật [15]. Thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm là sản phẩm được sản xuất từ thuốc kỹ thuật với dung môi, phụ gia theo quy trình công nghệ nhất định, đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, có nhãn hàng hóa và được phép đưa vào lưu thông, sử dụng [15].
Thuốc bảo vệ thực vật sinh học là sản phẩm có thành phần hữu hiệu là vi sinh vật sống hoặc chất có nguồn gốc từ vi sinh vật, thực vật, động vật [15]. Chất độc Chất độc là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá huỷ nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc chết [11]. Tính độc Tính độc là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhỏ nhất định của chất độc đó [11]. Độ độc Độ độc biểu thị mức độ của tính độc, là liều lượng nhất định của chất độc cần có để gây được một tác động nào đó lên cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập vào cơ thể sinh vật.
LD50 là chỉ số biểu thị độ độc cấp tính của một loại thuốc BVTV đối với động vật máu nóng (đơn vị tính là mg chất độc/kg trọng lượng chuột). Chỉ số LD50 chính là lượng chất độc gây chết 50% số cá thể chuột trong thí nghiệm. LD50 càng thấp thì độ độc càng cao [11]. LC50 là độ độc của một hoạt chất có trong không khí hoặc nước (đơn vị tính là mg chất độc/thể tích không khí hoặc nước).
Chỉ số LC50 càng thấp thì độ độc càng cao [11]. Ngộ độc cấp tính: Thuốc xâm nhập vào cơ thể một lần, gây nhiễm độc tức thời biểu hiện bằng những triệu chứng đặc trưng. Ngộ độc mãn tính: Khi thuốc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần trong thời gian dài, thuốc sẽ tích luỹ trong cơ thể đến một lúc nào đó cơ thể sẽ suy yếu, có những bộ phận trong cơ thể bị tổn thương do tác động của thuốc phát huy tác dụng [10]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Liều lượng Liều lượng là lượng thuốc cần áp dụng cho 1 đơn vị diện tích (đơn vị tính là kg/ha, lít/ha) [10].
Liều lượng là lượng chất độc cần thiết (được tính bằng mg hay g) để gây được một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật. Liều lượng ngưỡng: Là liều lượng rất nhỏ chất độc đã gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinh vật, nhưng chưa có biểu hiện triệu chứng bị hại. Liều lượng độc: Là liều lượng nhỏ chất độc đã gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinh vật và các triêu chứng ngộ độc bắt đầu biểu hiện. Liều gây chết: Là liều lượng chất độc đã gây cho cơ thể sinh vật những biến đổi sâu sắc đến mức không thể hồi phục, làm chết sinh vật [12].
Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại (theo quy định của WHO) Trị số LD50 của thuốc (mg/kg) Mức độ độc Thể lỏng Thể rắn Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da Rất độc <20 <40 <5 < 10 Độc 20 - 200 40 - 400 5 - 50 10 - 100 Độc trung bình 200 - 2000 400 - 4000 50 - 500 100 - 1000 Ít độc > 2000 > 4000 500 - 5000 > 1000 Nguồn: [11].