phần mở đầu, đề tài đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Chƣơng 2. Nhận thức và thực trạng sử dụng facebook của sinh viên tƣờng Đại học Hồng Đức Chƣơng 3: Tác động của facebook và giải pháp sử dụng facebook hiệu quả 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm công cụ 1.
Facebook Facebook là một dịch vụ MXH trực tuyến miễn phí. Tên của nó xuất phát từ tên của cuốn sách cho học sinh đƣợc phát vào đầu năm học tại một số trƣờng đại học tại Mỹ để giúp học sinh làm quen với nhau [21]. Facebook là một website (trang mạng), cho phép mọi ngƣời đăng ký tài khoản, sau khi đăng ký tài khoản bạn sẽ phải cập nhật hình ảnh của bản thân, hồ sơ cá nhân gồm tên tuổi, địa chỉ, email, trƣờng học, sở thích, giới tính,. Sau đó ngƣời dùng thêm những ngƣời sử dụng facebook khác vào danh sách bạn bè của mình, từ đó họ có thể nhắn tin, trò chuyện, chia sẻ tâm trạng trên trang của mình, rồi ngƣời khác vào đọc dòng tâm trạng đó, họ sẽ bình luận hoặc nhấn nút like để thể hiện quan điểm về bài viết đó.
Ngƣời dùng cũng có thể chơi game trên facebook, cũng có thể tạo các trang Fan Page để làm nơi sinh hoạt, quảng bá cho câu lạc bộ, lớp học, công ty, sản phẩm nào đó. Mỗi ngƣời dùng facebook ứng với 1 ngƣời ngoài đời thực, toàn trang web facebook.com là một xã hội ảo trên mạng Internet, facebook còn là cách để những ngƣời sử dụng máy tính, điện thoại có thể giao tiếp, trò chuyện với nhau nhƣ ngoài đời thật. Facebook chính là “cuốn sách in những khuôn mặt”. Nó nhƣ một cuốn danh bạ, một cuốn nhật kí tổng hợp của thế giới.
Mạng xã hội Mạng xã hội một cụm từ không còn quá xa lạ đối với chúng ta. Ngày nay hầu nhƣ không có ai không sử dụng cho mình một MXH, nó đã trở nên thông dụng ở nƣớc ta. 15 MXH là một loại hình dịch vụ kinh doanh. Tại sao lại nói nhƣ vậy, bởi nó sẽ là công cụ kết nối mọi ngƣời khắp cả nƣớc lại với nhau thông qua internet về các vấn đề sở thích, hay thông tin quan trọng, nó không phân biệt đối tƣợng sử dụng và có thể kết nối ở bất kì không gian thời gian nào.
Khi ta sử dụng đồng nghĩa ta phải bỏ tiền ra thì ta mới có thể kết nối với mọi ngƣời, do đó đây là loại hình kinh doanh dịch vụ thu tiền gián tiếp từ ngƣời sử dụng [22]. MXH, hay còn có thể biết đến dƣới những tên gọi khác nhƣ "cộng đồng ảo" hay "trang hồ sơ", là một trang web mang mọi ngƣời đến với nhau để nói chuyện, chia sẻ ý tƣởng và sở thích, hay làm quen với những ngƣời bạn mới. Dịch vụ MXH có những tính năng nhƣ chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cƣ dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới.
Các dịch vụ này có nhiều phƣơng cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ nhƣ tên trƣờng hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (nhƣ địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (nhƣ thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán. Chúng ta có thể hiểu theo một các chung nhất, MXH là nơi tập hợp các cá nhân, nhóm với các mối quan hệ về một hay nhiều mặt đƣợc gắn kết với nhau thông qua phƣơng tiện internet. Sinh viên Định nghĩa về sinh viên hổ biến nhất hiện nay nói rằng: Sinh viên là ngƣời học tập tại các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ đƣợc truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.
Họ đƣợc xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt đƣợc trong quá trình học. Theo nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, hai tiếng Sinh viên luôn gợi lên một cái gì trong sáng, tốt đẹp. Đó là thế hệ còn quá sớm để đƣợc coi là từng trải, dày dạn, nhƣng cũng quá muộn để bị coi là non nớt, thơ ấu. Thế hệ sinh viên đứng giữa hai 16 cái đó: Họ nhìn đời một cách nghiêm trang mà không mất vẻ trẻ trung, hồn nhiên, họ là thế hệ của học hỏi, rèn luyện, ƣớc mơ.
Họ là tuổi đẹp của một con ngƣời, thế hệ đẹp của một thời đại [23]. Sinh viên là thế hệ trẻ đƣợc trải qua quá trình học tập và rèn luyện, họ có trí thức, có sự nhiệt huyết. Họ là nhóm ngƣời tiếp cận nhanh nhất với sự phát triển của khoa học công nghệ, là những ngƣời sử dụng mạng xã hội nhiều nhất, đặc biệt là ứng dụng facebook. Công nghệ truyền thông xã hội Công nghệ truyền thông xã hội là những phát minh, sự sáng tạo của con ngƣời về máy tính giúp con ngƣời thỏa mãn các nhu cầu xã hội, tạo thuận lợi cho việc tạo ra và chia sẻ thông tin, ý tƣởng, sở thích nghề nghiệp và các hình thức biểu hiện khác thông qua cộng đồng và mạng ảo.
Điểm thú vị nhất của phƣơng tiện truyền thông xã hội là tạo nên sự tƣơng tác xã hội trực tuyến, rút ngắn khoảng cách địa lý giữa các cá nhân, các nhóm xã hội. Thế giới ảo Thế giới ảo là một mạng lƣới xã hội của các cá nhân tƣơng tác thông qua các phƣơng tiện truyền thông cụ thể, có khả năng vƣợt qua những ranh giới địa lí và chính trị để theo đuổi những lợi ích hay mục tiêu chung. Thế giới ảo ở đây không có nghĩa là không có, mà là thế giới có trong ý nghĩa không thực, không hiện hữu nhƣ thực tế. Biết là ảo, nhƣng ngƣời ta không thể phủ nhận nó; trái lại, đối với một số ngƣời, đó là cả đời sống thực của họ, không thể thiếu vắng mỗi ngày.
Thực trạng sử dụng facebook của sinh viên Facebook hiểu theo cách đơn giản nhất nó nhƣ là một quyển nhật kí online, ở đó mọi ngƣời có thể cập nhật và trao đổi thông tin với nhau. Sinh viên là ngƣời đang theo học tại các trƣờng đại học, cao đẳng hoặc trung cấp. Họ đƣợc đòa tạo về kiến thức chuyên môn và rèn luyện kĩ năng sống. 17 Thực trạng sử dụng facebook của sinh viên là tất cả những hiểu biết, quan niệm của sinh viên về facebook (quan niệm về vị trí, vai trò), hoạt động sử dụng facebok của sinh viên (mục đích sử dụng, thời gian sử dụng), hiệu quả của việc sử dụng facebook, tác động tích cực và tiêu cực của việc sử dụng facebook.
Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết nhu cầu * Nội dung: Abraham Harold Maslow (1908-1970) là nhà tâm lý học ngƣời Mỹ. Cùng với Carl Roger, hai ông đã khởi xƣớng cho trƣờng phái tâm lý học nhân văn, lấy nhân cách và sáng tạo làm đối tƣợng nghiên cứu. Hiện nay, những thành tựu của lý thuyết nghiên cứu tâm lý của ông đang đƣợc áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi của con ngƣời Theo Maslow, những nhu cầu căn bản của con ngƣời có thể đƣợc miêu tả bằng bậc thang theo thứ tự từ nhu cầu vật chất lên đến nhu cầu tinh thần.
Trong thang bậc các nhu cầu kể trên, bốn mức nhu cầu dƣới đƣợc Maslow gọi là những nhu cầu thiếu thốn (Deficit needs) hay còn gọi là nhu cầu D. Sở dĩ ông gọi nhƣ vậy là vì nếu chúng ta không có đƣợc đầy đủ một thứ gì đó, hay nói cách khác chúng ta bị thiếu thốn thì lúc này chúng ta sẽ có nhu cầu. Ngƣợc lại nếu chúng ta có đầy đủ những cái chúng ta cần thì sẽ không cảm thấy sự thiếu thốn nữa và chúng sẽ không còn trở thành động cơ. Những nhu cầu này theo Maslow là những nhu cầu bản năng, ngay cả những nhu cầu nhƣ đƣợc yêu thƣơng và tôn trọng cũng là những nhu cầu để duy trì sức khoẻ tâm thần cũng nhƣ thể chất.
Theo Maslow, những nhu cầu D là những nhu cầu đã đƣợc di truyền, nó chứa đựng trong đặc điểm di truyền của chúng ta. Nếu xem xét toàn bộ tiến trình phát triển của con ngƣời thì có thể nói rằng chúng ta đã trải qua các thang bậc nhu cầu D nhƣ việc trải qua các giai đoạn phát triển. Ví dụ những đứa trẻ sơ sinh tập trung vào việc thoả mãn các nhu cầu thể chất (sinh lý). Sau đó, đứa trẻ chuyển qua giai đọan thể hiện nhu cầu an toàn, xa hơn 18 nữa là các nhu cầu đƣợc chú ý, đƣợc yêu thƣơng và đƣợc tôn trọng.
Chỉ trong vòng hai đến 3 năm đầu tiên của cuộc đời, con ngƣời ta đã trải qua các giai đoạn thể hiện nhu cầu. Khi rơi vào điều kiện gây căng thẳng hoặc khi khả năng sinh tồn bị đe doạ thì con ngƣời có thể lùi xuống những thang bậc nhu cầu thấp hơn. Ví dụ khi những ngƣời thân trong gia đình đột nhiên rời bỏ bạn thì dƣờng nhƣ đƣợc yêu thƣơng là thứ mà bạn mong muốn hơn bao giờ hết. Điều này không chỉ xảy ra với cá nhân một ngƣời mà có thể xảy ra với nhóm xã hội.
Nhu cầu phát triển nhân cách (thể hiện bản thân) ở vị trí cao nhất trong thang bậc mà Maslow đƣa ra. Ông cho rằng dạng nhu cầu này khác về căn bản so với các dạng nhu cầu trƣớc đây và gọi nó là nhu cầu tồn tại (Being needs) hay nhu cầu B. Các nhu cầu này vẫn đƣợc con ngƣời cảm thấy cho dù chúng đƣợc thoả mãn tại một thời điểm nào đó. Khác với các dạng nhu cầu trƣớc đó, chúng sẽ không mất đi và không bị chủ thể lãng quên.
Điều đáng chú ý ở đây là để thoả mãn đƣợc nhu cầu B, con ngƣời phải đƣợc thoả mãn những nhu cầu D trƣớc đã, sau đó họ phải đặt ra đƣợc cho mình mục đích thực tế và đạt đƣợc chúng. Những mục đích thực tế này có thể rất khác nhau từ cá nhân này cho tới cá nhân khác dựa trên khả năng về tinh thần hay thể chất và các mối quan tâm. Nó cũng thay đổi theo tiềm năng, cơ hội và môi trƣờng trực tiếp của mỗi cá nhân. * Ứng dụng của lý thuyết: Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp chúng ta xác định đƣợc những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chƣa đƣợc thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của sinh viên.