CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số lý luận cơ bản về nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một khái niệm đa dạng và có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Dưới đây là một số khái niệm phổ biến được nhắc đến như: Theo giáo trình phát triển kinh tế của trường Đại học Thương mại (2005), nguồn nhân lực của một quốc gia là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng tham gia lao động.
Theo giáo trình kinh tế của trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012), nguồn nhân lực là nguồn lực của con người. Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư có khả năng tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội hiện tại cũng như trong tương lai. Theo cách tiếp cận của tổ chức Liên hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và tiềm năng của con người liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và của đất nước”. Hay nguồn nhân lực bao gồm cả lực lượng lao động giản đơn, lao động kỹ thuật, lao động trí óc.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”.
Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn“. 6 Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về chất lượng nguồn nhân lực: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Chất lượng nguồn nhân lực là sự lành nghề của lao động nhằm hướng tới việc làm có hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân của người lao động”.
ILO nghiêng về sử dụng khái niệm chất lượng nguồn lao động theo nghĩ rộng bao gồm giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. Theo phân tích của Tạ Ngọc Hải, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước: “Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp từ nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đào tạo, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ,. của người lao động.
Trong các yếu tố trên trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để đánh giá và xem xét chất lượng nguồn nhân lực”. Như vậy, dựa trên các quan điểm khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực có thể hiểu như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ những phẩm chất đạo đức, thẩm mỹ và năng lực của mỗi con người có ảnh hưởng quyết định tới việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và trong tương lai của mỗi tổ chức”. Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo ThS. Vũ Bá Thể (2005): “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất và phảm chất tâm lý – xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được giao”. Việc quản lý và sử dụng đúng nguồn 7 nhân lực sau khi đã được đào tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Từ những luận điểm trình bày trên, có thể hiểu rằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực, tinh thần so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 1.
Trình độ văn hóa Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống. Trong một chừng mực nào đó trình độ văn hóa là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của công ty. Trình độ văn hóa còn tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và thực tiễn. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân và được đánh giá qua hệ thống sau: Số người trong độ tuổi lao động biết chữ, không biết chữ Số người trong độ tuổi lao động có trình độ tiểu học Số người trong độ tuổi lao động có trình độ trung học cơ sở Số người trong độ tuổi lao động có trình độ trung học cơ sở Số người trong độ tuổi lao động có trình độ trung học phổ thông Số người trong độ tuổi lao động có trình độ đại học và trên đại học Như vậy, trình độ văn hóa của người lao động là kiến thức cơ sở đầu tiên để người lao động có khả năng nắm bắt được những kiến thức chuyên môn kỹ thuật phục vụ trong quá trình lao động sau này.
Nó là một tiêu chí hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân và nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của doanh nghiệp, tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất kinh doanh. Nâng cao trình độ văn hóa có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển nguồn lực con người của cả quốc gia. Trình độ chuyên môn kỹ thuật Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nào đó. Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc chuyên môn nhất định.
Do đó, trình độ chuyên mộn nguồn nhân lực được đo bằng: 8 Tỷ lệ cán bộ không qua đào tạo Tỷ lệ cán bộ trung cấp Tỷ lệ cán bộ cao đẳng đại học Tỷ lệ cán bộ trên đại học Trình độ kỹ thuật của người lao động được biểu hiện thông qua các tiêu chí sau: Số lượng lao động được đào tạo kỹ thuật và lao động phổ thông Số lượng người có bằng kỹ thuật và không có bằng kỹ thuật Trình độ tay nghề theo bậc thợ Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau, thông qua các chỉ tiêu số lượng lao động được đào tạo và không được đào tạo trong mỗi doanh nghiệp. Tình trạng sức khỏe và năng lực phẩm chất - Tình trạng sức khỏe: Sức khỏe vừa là mục đích của sự phát triển đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển. Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người về cả vật chất và tinh thần. Đó là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần.
Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, là năng lực lao động chân tay. Sức khỏe tinh thần là sự hoạt động dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành thực tiễn. Bộ y tế nước ta có quy định về ba mức độ sức khỏe nói chung A: Thể lực tốt, không bệnh tật gì B: Trung bình C: Yếu, không có khả năng lao động - Năng lực phẩm chất cá nhân: Phẩm chất đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của xã hội nhằm điều chỉnh đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội.