phần mở đầu và 03 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong khu công nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại KCN Vsip, Thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Biện pháp phát triển nguồn nhân lực tại KCN Vsip, Thành phố Hải Phòng 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm khu công nghiệp ''Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 82/2018/NĐ-CP) Nghị định 82/2018/NĐ-CP''[ 27] Các loại hình khu công nghiệp Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: - Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP. - Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
- Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trƣờng, xã hội của các doanh nghiệp. Khái niệm nguồn nhân lực Trong nhiều công trình khoa học, khái niệm “nguồn nhân lực” đã đƣợc định nghĩa theo các cách khác nhau: Theo cuốn sách “Từ chiến lƣợc phát triển giáo dục đến chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực”, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng hợp năng lực lao 6 động đƣợc chuẩn bị ở mức độ nhất định và có thể huy động của mỗi con ngƣời trong một địa phƣơng, một vùng lãnh thổ hay một quốc gia (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2002). Định nghĩa này đã phần nào giúp chúng ta mƣờng tƣợng ra khái niệm nguồn nhân lực - nguồn lực của con ngƣời. Song, cụm từ “năng lực lao động” vẫn còn quá khái quát.
Cụ thể hơn, theo “Báo cáo đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực” của Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội của mỗi con ngƣời trong cộng đồng. Với cái nhìn toàn diện hơn, Hà Văn Hội (2006) cho rằng “nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng đƣợc xem là sức lao động của con ngƣời - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong doanh nghiệp.” Như vậy, theo tác giả nguồn nhân lực là tất cả sức lao động của mọi con người trong cộng đồng, gồm toàn bộ khả năng về trí lực (kiến thức và kĩ năng), thể lực mà con người có thể vận dụng trong quá trình lao động sản xuất, cũng như nhân phẩm và thái độ làm việc của họ.
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp phụ thuộc vào tất cả những người lao động trong doanh nghiệp đó. Trong định nghĩa trên, cần lƣu ý rằng: Nguồn nhân lực không phải là phép cộng đơn giản năng lực lao động của mỗi cá nhân. Khi họ kết hợp và hỗ trợ nhau, năng lực làm việc của cả nhóm mới tạo ra nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Hơn nữa, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không đứng riêng lẻ mà chịu sự tác động của nguồn nhân lực quốc gia.
Đồng thời, nó cũng chi phối các yếu tố khác trong doanh nghiệp. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực “Phát triển nguồn nhân lực là một loạt các hoạt động có tổ chức, được tiến hành trong một khoảng thời gian chuyên biệt và được thiết kế để tạo ra những thay đổi về hành vi của người lao động”[7] “Phát tiển nguồn nhân lực là một quá trình mà các nhân viên của một tổ chức được giúp đỡ một cách liên tục và có kế hoạch để (i) có được hoặc mài giũa các khả năng cần thiết để thực hiện các chức năng khác nhau liên quan đến vai trò hiện tại hoặc tương lai của họ ; (ii) phát triển năng lực chung của họ với tư cách cá nhân và khám phá, khai thác tiềm năng bên trong của chính họ cho mục đích phát triển của chính họ và/hoặc tổ chức; (iii) phát triển văn hóa tổ chức trong đó mối quan hệ cấp trên-cấp dưới, làm việc nhóm và hợp tác giữa các đơn vị con vững mạnh và đóng góp vào sự lành mạnh nghề nghiệp, động lực và niềm tự hào của nhân viên.”[8] Phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao kiến thức, năng lực và thái độ làm việc tích cực của tất cả những ngƣời làm việc ở tất cả các cấp trong một doanh nghiệp “Phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nửa thế kỷ qua, nhưng các quan niệm về thuật ngữ này rất khác nhau. Theo nghĩa rộng phát tiển nguồn nhân lực, là một tập hợp con của lý thuyết lớn về phát triển con người, không chỉ bao gồm giáo dục và đào tạo nghề, mà còn cả sức khỏe, dinh dưỡng và khả năng tiếp cận các nguồn có mức độ tự quyết định. Theo nghĩa hẹp, phát tiển nguồn nhân lực là quá trình đào tạo và nâng cao các kỹ năng và thái độ của nhân viên ở tất cả các cấp nhằm tối đa hóa hiệu quả của doanh nghiệp.”[11] Phát triển nguồn nhân lực là "quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của tất cả mọi ngƣời trong xã hội.
Về mặt kinh tế, nó có thể đƣợc mô tả là sự tích lũy vốn con ngƣời và đầu tƣ hiệu quả của nó vào sự phát triển của một nền kinh tế. Trong về mặt chính trị, phát triển nguồn nhân lực chuẩn bị cho mọi ngƣời tham gia trƣởng thành vào các quá trình chính trị, đặc biệt với 8 tƣ cách là công dân trong một nền dân chủ. Từ quan điểm xã hội và văn hóa, phát triển nguồn nhân lực giúp mọi ngƣời có cuộc sống đầy đủ và phong phú hơn, ít bị ràng buộc bởi truyền thống. Tóm lại, các quá trình phát triển nguồn nhân lực mở ra cánh cửa cho hiện đại hóa.
Phát tiển nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa là các hoạt động và quá trình đƣợc thực hiện bởi một tổ chức nhằm hình thành sự phát triển trí tuệ, đạo đức, tâm lý, văn hóa, xã hội và kinh tế của các cá nhân trong một tổ chức, nhằm giúp họ đạt đƣợc tiềm năng con ngƣời cao nhất nhƣ một nguồn lực cho cộng đồng. Nghĩa là đem lại sự phát triển toàn diện cho ngƣời lao động, để họ cống hiến hết sức mình cho tổ chức, cộng đồng, xã hội và đất nƣớc. Thành phần của phát triển nguồn nhân lực là: Phát triển cá nhân: Phát triển cá nhân đề cập đến việc phát triển các kỹ năng, kiến thức mới và cải thiện hành vi góp phần vào năng suất của NLĐ. Kết quả của khóa đào tạo này là hiệu quả công việc của NLĐ đƣợc cải thiện.
Sự phát triển cá nhân chủ yếu diễn ra thông qua các hoạt động không chính thức nhƣ huấn luyện hoặc cố vấn bởi một cấp trên có kinh nghiệm. Phát triển nghề nghiệp: Đó là một cách tiếp cận để phù hợp với các mục tiêu của nhân viên với các yêu cầu của tổ chức. Sở thích, giá trị, khả năng và năng lực của các cá nhân đƣợc xác định để phân tích cách phát triển các kỹ năng của họ cho công việc trong tƣơng lai. Ở cấp độ cá nhân, phát triển nghề nghiệp bao gồm lập kế hoạch nghề nghiệp và nhận thức nghề nghiệp.
Cố vấn, cung cấp tƣ vấn nghề nghiệp, hội thảo phát triển nghề nghiệp, lập kế hoạch nguồn nhân lực là những bƣớc mà tổ chức thực hiện để phát triển nghề nghiệp. Phát triển tổ chức: Phát triển tổ chức có nghĩa là một nỗ lực rộng khắp của tổ chức để nâng cao hiệu quả của tổ chức. Bao gồm việc cải thiện cơ cấu nguồn nhân lực của tổ chƣc, văn hóa lao động của tổ chức, quy trình tuyển dụng lao đông, v. thông qua các hoạt động nhƣ đánh giá hiệu suất, quản lý thay đổi, lập kế hoạch kế nhiệm, phân tích quy trình và xây dựng nhóm.
9 Từ những phân tích bên trên về phát triển nguồn nhân lực, theo tác giả phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động nhằm biến đổi về số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức 1. Vai trò của phát triển NNL - Đối với tổ chức, doanh nghiệp Đạt đƣợc mục tiêu: Việc phát triển nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động phát triển thƣờng xuyên, liên tục các năng lực của con ngƣời. Đó là điều cần thiết để một tổ chức đạt đƣợc các mục tiêu của mình. Nhân viên có năng lực và động lực là điều cần thiết cho sự tồn tại, tăng trƣởng và xuất sắc của tổ chức.
Duy trì mức độ tăng trƣởng: Trong một khoảng thời gian, một tổ chức có thể đạt đến điểm bão hòa về tốc độ tăng trƣởng. Ngay cả để duy trì mức độ tăng trƣởng bão hòa nhƣ vậy, năng lực của nhân viên cần phải đƣợc mài giũa hoặc phát triển khi các tổ chức hoạt động trong môi trƣờng liên tục thay đổi đòi hỏi nhân viên phải có đƣợc những năng lực mới. Nâng cao hiệu quả: Bất kỳ tổ chức nào quan tâm đến việc cải thiện dịch vụ và hiệu quả của nó trong việc giảm chi phí, giảm sự chậm trễ, tăng sự hài lòng của khách hàng, cải thiện chất lƣợng và sự nhanh chóng của dịch vụ, hình ảnh thị trƣờng đều cần phát triển năng lực của nhân viên để thực hiện các nhiệm vụ cần thiết nhằm mang lại những cải tiến đó. Nâng cao chất lƣợng công việc: Các chƣơng trình phát triển nguồn nhân lực có thể hƣớng dẫn nhân viên cách hoàn thành công việc một cách hiệu quả.
Họ càng hiểu kỳ vọng của ngƣời quản lý, chất lƣợng công việc họ có thể gửi càng cao.