Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động 1. Khái niệm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động Để hiểu được khái niệm quyền QLLĐ của người sử dụng lao động, trước hết phải hiểu được quản lý nói chung. Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, nhà xuất bản Bách khoa (2010), quản lý được hiểu là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Còn theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp, quản lý được hiểu là: 1) làm cho hoạt động tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất. Quản lý được thực hiện bằng ba loại biện pháp chủ yếu (kinh tế, hành chính, giáo dục…) và các hình thức tác động như lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, khen thưởng, xử phạt… 2) Là giữ gìn, bảo quản. Quản lý tài sản, quản lý hồ sơ, tài liệu. Còn theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt mục đích đã định trước.
Như vậy, các cách hiểu về quản lý như trên đều thể hiện hoạt động quản lý có các đặc điểm sau: Một là, quản lý nảy sinh và tồn tại tất yếu khi có hoạt động chung của con người.Mac thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”, nhấn mạnh nội dung này, ông cũng viết: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7, tr. Hai là, quản lý là việc tác động lên đối tượng chịu sự quản lý theo đúng ý chí của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục đích đề ra. Nó trả lời cho câu hỏi tại sao phải quản lý và quản lý để làm gì. Ba là, quản lý muốn thực hiện được phải dựa trên cơ sở tổ chức và quyền uy.
Theo đó vấn đề muốn nói đây là chủ thể của quản lý dù là cá nhân hay tổ chức phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân theo các cách thức, biện pháp và hình thức nhất định để hướng tới mục tiêu đã đề ra. Trên cơ sở tổ chức và quyền uy đó, chủ thể chịu sự quản lý phải tuân theo sự quản lý, chỉ đạo của chủ thể quản lý. Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống xã hội. Đó là hoạt động vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, do vậy đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên để đạt được hiệu quả như ý muốn.
Quản lý là một điều tất yếu để quá trình lao động diễn ra một cách có trật tự, ổn định hiệu quả, đạt được mục đích đã đề ra. Trong quan hệ lao động giữa NSDLĐ và NLĐ thì chủ thể có quyền uy, có thẩm quyền quản lý lao động là NSDLĐ xuất phát từ việc NSDLĐ mua sức lao động của NLĐ và NLĐ phải làm việc theo sự chỉ đạo và thỏa thuận đã đặt ra giữa hai bên. NSDLĐ có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trách nhiệm trả công cho NLĐ và đương nhiên để tận dụng có hiệu quả và triệt để sức lao động thì NSDLĐ là chủ thể quản lý để quá trình lao động diễn ra trật tự, ổn định, mang lại hiệu quả cao nhất. Quyền quản lý này của NSDLĐ hoàn toàn khác với quản lý nhà nước về lao động.
Trong lĩnh vực lao động và khoa học pháp lý, quyền quản lý lao động của NSDLĐ cho đến nay chưa có định nghĩa đầy đủ và chính thống. “Quyền” nói chung theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế. Qua những hiểu biết về khái niệm quản lý và khái niệm quyền, ta có thể xem xét khái niệm quyền quản lý lao động của NSDLĐ dưới những khía cạnh dưới đây: Dưới góc độ là quyền của chủ thể, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là khả năng xử sự của NSDLĐ được pháp luật cho phép thực hiện trong quá trình lao động nhằm quản lý các hoạt động của NLĐ một cách trật tự, ổn định mang lại hiệu quả lao động cao nhất. Với quyền quản lý lao động này, NSDLĐ sẽ thực hiện dưới những phương pháp và hình thức khác nhau nhằm đạt được mục đích của mình bao gồm việc ban hành thiết lập các công cụ quản lý và tổ chức thực hiện quản lý.
Tuy nhiên không phải NSDLĐ được phép làm tất cả những gì mong muốn, đây là quyền có giới hạn bởi ngoài NSDLĐ thì pháp luật và Nhà nước còn phải đảm bảo về quyền và lợi ích của NLĐ cũng như của toàn xã hội. Tất cả đều phải hài hòa trong mối quan hệ và lợi ích chung của tất cả các bên [8, tr. Dưới góc độ pháp lý, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là hệ thống các quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định về quyền của NSDLĐ nhằm tạo hành lang pháp lý cho họ duy trì được nền nếp của quá trình lao động trong đơn vị sử dụng lao động [8, tr. Các quy định pháp luật này được ghi nhận trong luật, các văn bản dưới luật do cơ quan Nhà nước có thẩm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền ban hành.
Quyền quản lý lao động của NSDLĐ theo đó là một chế định pháp luật được quy định và bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước. NSDLĐ sẽ thực hiện quyền quản lý của mình trong phạm vi các quy định của pháp luật, những hành vi sai trái trong quá trình quản lý của NSDLĐ cũng như NLĐ sẽ bị xử lý theo quy định. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là quyền của NSDLĐ chỉ đạo, điều hành NLĐ trong đơn vị của mình trên cơ sở quy định pháp luật nhằm duy trì trật tự, ổn định và nâng cao hiệu quả lao động. Đặc điểm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động Thứ nhất, quyền quản lý lao động của NSDLĐ mang tính chất đơn phương.
Nói cụ thể hơn là quyền quản lý lao động của NSDLĐ thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ, thể hiện ở việc NSDLĐ có quyền áp dụng các biện pháp quản lý theo ý chí của mình. Khi quan hệ lao động được thiết lập, NLĐ phải tuân theo mọi chỉ đạo, điều khiển đơn phương từ phía NSDLĐ không trái pháp luật. Sự đơn phương trong quá trình quản lý là cần thiết, thể hiện lợi thế vốn có của NSDLĐ đối với NLĐ và giúp họ duy trì được nền nếp của quá trình lao động. Tuy vậy việc thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ trong quá trình quản lý lao động không loại trừ bản chất và nguyên tắc của mối quan hệ lao động là bình đẳng, hợp tác và thương lượng giữa các bên.
Trong nhiều trường hợp, NSDLĐ thể hiện ý chí đơn phương của mình trong quá trình quản lý nhưng cũng nhiều trường hợp, NSDLĐ cũng phải tham khảo và xin ý kiến của NLĐ hoặc đại diện của NLĐ. Có thể nói quyền quản lý lao động của NSDLĐ thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ nhưng cũng bị chi phối bởi ý chí của chủ thể khác. Thứ hai, quyền quản lý lao động của NSDLĐ bị chi phối bởi ý chí của các chủ thể trong quan hệ lao động. Như đã nói ở trên, trong nhiều trường 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp NSDLĐ phải xin ý kiến của NLĐ hoặc tổ chức đại diện của NLĐ khi quyết định một vấn đề nào đó, ví dụ cụ thể để thấy rõ như theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ và vì lý do kinh tế NSDLĐ chỉ được tiến hành khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.
Có thể thấy quá trình quản lý của NSDLĐ có sự tham gia của tổ chức đại diện, đây là đặc thù của quan hệ lao động. Hơn nữa, khác với quyền quản lý của Nhà nước, quyền quản lý của NSDLĐ không chỉ thể hiện trên cơ sở các văn bản đơn phương do NSDLĐ ban hành mà còn được thể hiện trên cơ sở các văn bản do hai bên chủ thể của quan hệ lao động thỏa thuận ký kết (như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, …) [8, tr. Đặc điểm này xuất phát từ việc bản chất của quan hệ lao động là tự nguyên, bình đẳng, hợp tác và thương lượng. Như vậy có thể nói quyền quản lý của NSDLĐ không chỉ thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ mà còn bị chi phối bởi ý chí của các chủ thể khác.
Thứ ba, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là quyền năng có giới hạn. NSDLĐ có quyền áp dụng ý chí đơn phương của mình để thực hiện quyền quản lý tuy nhiên không phải là tuyệt đối. Giới hạn dễ dàng nhận thấy là giới hạn về không gian, thời gian và đối tượng quản lý. NSDLĐ có phạm vi đối tượng quản lý riêng, có khu vực quản lý riêng, có tài sản riêng… và điều tất nhiên là chỉ có quyền quản lý đối với NLĐ trong phạm vi của mối quan hệ lao động, tại đơn vị lao động của mình và trong thời gian lao động.
Các vấn đề bên ngoài mối quan hệ lao động, ngoài thời gian lao động sẽ không thuộc phạm vi quyền quản lý lao động của NSDLĐ.