Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về Bảo hiểm y tế 1. Khái niệm bảo hiểm y tế Theo Tổ chức Y tế thế giới: BHYT là một hoạt động dựa vào sự đóng góp của cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ; lấy số đông bù số ít nhằm giúp các thành viên khi họ gặp rủi ro về sức khỏe, BHYT giúp người bệnh chia sẻ gánh nặng về tài chính và đề cao tính cộng đồng xã hội. Tại Việt Nam, Luật BHYT số 25/2008/QH12 định nghĩa: “Bảo hiểm Y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này” [15].
Ngày 13/6/2014, Quốc hội ban hành Luật số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT định nghĩa: “Bảo hiểm Y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” [16]. BHYT có tác dụng góp phần khắc phục sự thiếu hụt về tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh cho nhân dân. Như vậy, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (CSSK), không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT. Người tham gia BHYT sẽ đóng một mức phí từ trước khi đau ốm trong một thời hạn nhất định, nếu trong khoảng thời gian đó mà người tham gia BHYT có vấn đề sức khoẻ và cần sử dụng dịch vụ CSSK thì sẽ được cơ quan BHYT thanh toán toàn bộ hoặc một phần chi phí CSSK.
Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình dể đóng vào quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có nhay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSK khi người tham gia không may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó mà không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh. Cơ quan 5 Bảo hiểm Xã hội (BHXH) sẽ thanh toán khoản chi phí này theo qui định của Luật BHYT. Bản chất BHYT là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội. BHYT là một chính sách xã hội nằm trong hệ thống các chính sách An sinh xã hội của mỗi quốc gia.
Tính san sẻ tài chính, chia sẻ rủi ro luôn là nội dung quan trọng nói lên bản chất của BHYT. Các mối quan hệ trong BHYT có thể gồm nhiều bên, tùy theo loại hình BHYT. Khái niệm Hộ gia đình Cùng với sự cải cách kinh tế, các nhà kinh tế học bắt đầu quan tâm thực sự đến sự phát triển nông thôn, nông nghiệp. Về phương diện thống kê, Liên hiệp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.G Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu châu Á thuộc Trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia khi khảo sát “Kinh tế hộ trong quá trình phát triển” ở một số nước châu Á đã nêu rằng “Ở châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng huyết tộc ở chung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và chung một ngân quỹ”.
Như vậy, HGĐ là những người cùng ăn và cùng ở trong cùng một nhà; nếu ăn chung nhưng ở riêng hoặc ở chung ăn riêng được xác định là 2 hộ khác nhau. HGĐ có thể bao gồm những người không cùng quan hệ ruột thịt với nhau. Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội, HGĐ như là một xã hội thu nhỏ, HGĐ là một tế bào của xã hội, Hộ thực hiện các chức năng sản xuất, kinh doanh, tái tạo sức lao động, xây dựng quỹ “phúc lợi gia đình”, cùng xã hội bảo đảm mọi điều kiện trưởng thành của lực lượng lao động trẻ. Bảo hiểm y tế hộ gia đình Tham gia BHYT theo HGĐ lần đầu tiên được luật hóa tại luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, chính thức được áp dụng từ ngày 01/01/2015.
Quy định về nhóm đối tượng tham gian BHYT theo HGĐ được xem là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân mà Đảng, Nhà nước ta đã xác định. Theo điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT thì: HGĐ tham gia BHYT bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú. 6 Tham gia BHYT theo HGĐ là việc toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu (không bao gồm người đã khai báo tạm vắng) hoặc sổ tạm trú cùng tham gia BHYT, trừ những thành viên gia đình đã thuộc đối tượng đã tham gia BHYT thuộc nhóm do người lao động, chủ sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức BHXH đóng; các nhóm được ngân sách nhà nước đóng hoặc hỗ trợ mức đóng BHYT. Như vậy, nếu người dân không thuộc các nhóm đối tượng tham gia BHYT có sự hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc toàn bộ phí tham gia BHYT từ người sử dụng lao động, tổ chức BHXH hay Nhà nước thì sẽ tham gia BHYT HGĐ bằng cách tự đóng góp chi phí BHYT.
BHYT theo HGĐ như là tấm “lưới đỡ” sau cùng cho những người dân chưa thuộc bất kỳ nhóm đối tượng tham gia BHYT nào khác, đảm bảo mọi người dân trong xã hội đều có cơ hội được bảo vệ bởi BHYT. Chính sách liên quan đến bảo hiểm y tế hộ gia đình Chính sách BHYT ở nước ta được triển khai từ năm 1992, dưới hai hình thức: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. Việc thu và phát triển đối tượng tham gia BHYT bắt buộc được thực hiện thông qua các cơ quan, đơn vị nên có nhiều thuận lợi hơn. Việc thu và phát triển đối tượng tham gia BHYT tự nguyện được tổ chức trực tiếp từ đối tượng tham gia gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Việc tổ chức thực hiện BHYT HGĐ được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn trước khi có Luật BHYT (từ 1994 - 2008) - Từ năm 1994- 2002: BHYT tự nguyện triển khai chủ yếu trong nhóm HSSV theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 14/TT-LB ngày 19/8/1994 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo- Bộ Y tế; Thông tư liên tịch số 40/1998/TTLT-BGD&ĐT-BYT ngày 18/7/1998 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Y tế. Công tác BHYT tự nguyện nhân dân thời kỳ này thực hiện theo đề án do UBND các tỉnh, thành phố phê duyệt. - Từ năm 2003 – 2005: BHYT tự nguyện thực hiện theo Thông tư liên tịch số 77/2003/TTLT-BTC-BYT ngày 07/7/2003 của Liên Bộ Tài chính – Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện, thời điểm này đối tượng tham gia BHYT tự nguyện được mở rộng và thực hiện thống nhất trong cả nước nên đối tượng tham gia BHYT tự nguyện tăng mạnh.
7 - Từ năm 2005 – 2007: BHYT tự nguyện thực hiện theo Thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BTC-BYT ngày 24/5/2005 của Liên Bộ Tài chính – Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện Luật BHYT tự nguyện. Việc tham gia BHYT tự nguyện thực hiện có điều kiện, 10% số HGĐ trong phạm vi địa bàn xã, phường đăng ký tham gia; đối với HSSV phải 10% số HSSV trong danh sách HSSV của nhà trường; đối với hội viên hội, đoàn thể có ít nhất 30% hội viên tham gia; đối với thân nhân người lao động phải có 100% thân nhân sống trong cùng địa bàn tham gia. - Từ năm 2007 – 2009: BHYT tự nguyện thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 và Thông tư liên tịch số 14/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 10/12/2007 của Liên Bộ Y tế – Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC. Giai đoạn từ khi có Luật Bảo hiểm y tế Luật BHYT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009, việc tổ chức triển khai thực hiện BHYT đối với đối tượng tự nguyện tham gia đã có những thay đổi cơ bản: Đối tượng tham gia BHYT theo 2 hình thức (BHYT với đối tượng có trách nhiệm tham gia, BHYT với đối tượng tự nguyện tham gia), BHYT với đối tượng tự nguyện tham gia được thực hiện đối với các nhóm đối tượng chưa vào lộ trình đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT.
Một số nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện chuyển thành nhóm đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT như: Thân nhân của người có công với cách mạng, đối tượng thuộc HGĐ cận nghèo từ 01/7/2009; đối tượng HSSV, người hoạt động không chuyên trách ở xã từ ngày 01/01/2010. Như vậy, từ năm 2010 đối tượng tự nguyện tham gia BHYT chỉ bao gồm: Người thuộc HGĐ làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; thân nhân người lao động; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT- BTC ngày 30/3/2007 của Liên Bộ Y tế – Bộ Tài chính về hướng dẫn BHYT tự nguyện. Theo đó bỏ điều kiện 100% thành viên HGĐ phải tham gia, như vậy BHYT tự nguyện theo Luật BHYT bao gồm: Đối tượng tự nguyện tham gia BHYT, nếu tham gia BHYT theo HGĐ (bao gồm toàn bộ người có tên trong một sổ hộ khẩu tham gia) hoặc người lao động tham gia BHYT cho thân nhân, thì từ thân nhân thứ 2 trở lên 8 được giảm trừ mức đóng theo quy định của Luật, còn lại là tham gia BHYT tự nguyện nhân dân[11]. Từ khi có Luật BHYT số 46/2014/QH13 sửa đổi bổ sung Luật BHYT năm 2008 và Nghị định 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT đã chia đối tượng tham gia thành 6 nhóm: 1) Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; 2) Nhóm do tổ chức BHXH đóng; 3) Nhóm do ngân sách nhà nước đóng; 4) Nhóm được nhân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng; 5) Nhóm tham gia BHYT HGĐ và 6) Nhóm do người sử dụng lao động đóng.