Chương 1 TỔNG QUAN 1.Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.1 Giới tính và tỉ số giới tính khi sinh 1.1 Giới tính Giới tính là đặc điểm sinh học của nam và nữ. Những đặc điểm giới tính mang tính bẩm sinh vì nó được hình thành từ trong bào thai. Mỗi cá nhân khi sinh ra là đã mang các đặc điểm giới tính đặc trưng mà không phụ thuộc vào mong muốn của cá nhân ấy. Các đặc điểm này của người cùng giới tính là cơ bản giống nhau, không hoặc rất ít thay đổi theo điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, thể chế hay lịch sử.
Ngày nay, với tiến bộ của khoa học kĩ thuật người ta đã có thể phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên các phẫu thuật này chỉ mang tính hình thể còn không thay đổi được chức năng sinh học[15]. Cụ thể là phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú, nam giới có râu, sản xuất ra tinh trùng để thụ thai. Những khác biệt nêu trên giữa phụ nữ và nam giới gọi là khác biệt sinh học, mang tính tự nhiên.
Các đặc điểm này là bẩm sinh nếu không vì một điều kiện đặc biệt nào đó như bệnh tật hay đột biến gen thì mọi phụ nữ hay nam giới ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á đều có các đặc điểm này. Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta có thể phẫu thuật chuyển đổi nam giới thành phụ nữ. Lúc này nam giới có hình thể của nữ giới nhưng không phóng noãn, không thể mang thai và tiết sữa. Ngược lại nữ giới có thể phẩu thuật chuyển đổi giới mang hình thể bên ngoài giống nam giới nhưng họ cũng không thể sản sinh ra tinh trùng vì vậy không thể thụ tinh để sinh con.
Khác với giới tính, giới là đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội. Giới là sự mong muốn, quy định của xã hội về vai 4 trò, trách nhiệm và quyền lợi của nam và nữ. Đặc điểm giới của nam và nữ được hình thành trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân do sự tương tác của cá nhân với môi trường văn hóa, xã hội. Trong khi các đặc điểm giới tính rất ít thay đổi thì các đặc điểm về giới lại rất đa dạng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, thể chế xã hội, tôn giáo và lịch sử[11][17].
Xã hội quy định những khuôn mẫu về giới, đó là những giá trị, niềm tin được quy định như: nam giới để tóc ngắn, để râu, mạnh mẽ, ăn to nói lớn, chủ động, quyết đoán là người làm kinh tế và làm chủ gia đình. Nữ giới để tóc dài, dịu dàng, đảm đang, nói năng nhẹ nhàng, thụ động, đảm nhiệm phần lớn các công việc phục vụ, chăm sóc gia đình và quán xuyến việc nhà. Ở một số nước châu Á như: Trung Quốc,Việt Nam, Nhật Bản, xã hội coi nam giới có vai trò nối dõi tông đường, có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên và vì vậy họ được hưởng mọi quyền lợi trong gia đình, được quan tâm chăm sóc hơn nữ giới.2 Tỷ số giới tính và tỷ số giới tính khi sinh * Tỷ số giới tính Tỉ số giới tính được tính bằng số nam trên 100 nữ trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Nếu chia dân số thành dân số nam và dân số nữ thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính.
Ví dụ tỉ số giới tính 105/100 của một quần thể dân cư có nghĩa là trong quần thể dân cư đó có 105 nam tính trên 100 nữ[17]. Tỷ số giới tính có thể khác nhau từng vùng, miền, quốc gia, do di cư, do ảnh hưởng của chiến tranh, dịch bệnh, dao động theo từng độ tuổi của con người và nhiều yếu tố khác. Dân số có tuổi thọ càng cao thì tỷ số giới tính của quần thể dân số đó có xu hướng giảm do phụ nữ thường sống lâu hơn nam giới. *Tỷ số giới tính khi sinh Tỉ số giới tính khi sinh là số trẻ em trai được sinh ra còn sống trên 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường 5 là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh[17].
Tỷ số giới tính khi sinh là trường hợp đặc biệt của tỷ số giới tính nói chung. Nó nói lên trung bình có bao nhiêu trẻ trai ra đời so với 100 trẻ gái, hay nói cách khác là sự cân bằng về giới tính ở nhóm sơ sinh. Tỷ số giới tính khi sinh thường dao động từ 104 – 106, xung quanh con số 105 nam so với 100 nữ[40], các nhà nghiên cứu từ lâu cho rằng liên quan đến lý do khi sinh nam giới nhiều hơn nữ giới vì nam giới thường có nguy cơ tử vong cao hơn nữ giới trong suốt cuộc đời[4][10][26]. Vì vậy chọn lọc tự nhiên đã dẫn tới xác suất sinh con trai và con gái không hoàn toàn bằng nhau mà thường là 0,51 với con trai và 0,49 với con gái.
Một điều đáng lưu ý là giá trị của TSGTKS rất ổn định qua thời gian, không gian giữa các châu lục, khu vực, quốc gia, chủng tộc người. Bất kể một sự thay đổi đáng kể nào về giá trị của TSGTKS đều phản ánh sự can thiệp có chủ định ở các mức độ khác nhau đến sự cân bằng tự nhiên này. *Mất cân bằng giới tính khi sinh Là số trẻ em trai sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường(104- 106) so với 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Theo quy ước nhân khẩu học, khi tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng hoặc một tỉnh/thành phố từ 110 trở lên là mất cân bằng giới tính khi sinh[5].2 Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh 1.1 Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên thế giới Theo tổng kết của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), châu Á là nơi có sự mất cân bằng giới tính cao nhất trên thế giới chúng ta biết rằng dân số của Trung Quốc và Ấn Độ gộp lại đã xấp xỉ 1/3 dân số toàn thế giới.
Vào năm 2005, tỉ số giới tính tại Ấn Độ là 107,5 tại Trung Quốc là 106,8 tại Pakistan là 106,0 và Bangladesh là 104,9 nam trên 100 nữ (bốn nước này chiếm tới 43% 6 dân số toàn cầu)[51]. Trong khi nhìn chung, số liệu về tỉ số giới tính ở ngoài châu Á chỉ trong khoảng 101 – 105[43]. Cũng theo số liệu 2005, sáu quốc gia châu Á có tỷ số giới tính ở độ tuổi trẻ em được ghi nhận là mất cân bằng đáng kể (lên tới trên 108) là Ấn Độ, Hàn Quốc, Georgia, Azerbaijan, Trung Quốc và Armenia, đặc biệt đáng lưu ý là hai nước đông dân nhất thế giới Trung Quốc và Ấn Độ[24][42]. Tại Ấn Độ sự phân biệt giới tính có chiều hướng không thuận lợi.
So sánh số liệu tổng điều tra dân số từ 1951- 2001 tại Ấn Độ cho thấy tỉ số giới tính độ tuổi 0-4 có xu hướng tăng liên tục, từ mức 101 lên 107. Số liệu toàn Ấn Độ cho thấy năm 1981 tỷ số giới tính của trẻ em chỉ là 104, năm 1991 tỷ số này là 105,8 và tăng lên 107,9 năm 2001[36]. Tuy nhiên, sự gia tăng này rõ rệt hơn nhiều ở các thành phố lớn, ở Bắc và Tây Ấn Độ, đặc biệt khi so sánh thứ tự các lần sinh. TSGTKS toàn Ấn Độ của những con thứ 2, 3, và 4 trong gia đình đều là khoảng 108.
Tuy vậy TSGTKS ở bang Haryana lần lượt là 114, 129 và 108, tương tự với bang Punjab là 123, 136 và 134. Nói một cách khác, với TSGTKS là 130, trung bình trong 230 trẻ sơ sinh ra đời, số con trai nhiều hơn 25 trẻ so với mức thống kê trung bình (trong 230 trẻ sẽ có 130 trẻ trai và 100 trẻ gái, so với lẽ ra chỉ 105 trai và 100 gái). Cũng theo phân tích của Guilmoto, TSGTKS có một số khác biệt theo những yếu tố tôn giáo, vùng miền tại Ấn Độ. Cụ thể, người theo Thiên chúa giáo có TSGTKS thấp hơn cả (103,8), tiếp đó là người theo đạo Hồi (107,4), đạo Phật (108,4) và người Hindu (110,9).
TSGTKS cao nhất ở nhóm người theo đạo Sikh (129,8) [36][45]. Phân tích theo vùng miền ở Ấn Độ giai đoạn 1981-2001 thấy TSGT năm 1981 của toàn quốc là 104 trong đó vùng nông thông là 103,8 ở thành thị cao hơn hẳn (107,4). Năm 1991 toàn quốc là 105,8 vùng nông thôn là 105,5 còn thành thị là 107. Năm 2001 toàn quốc là 107,9 vùng nông thông 107,1 thành thị là 110,4.
Đặc biệt, khi phân tích theo trình độ học vấn của người mẹ 7 thì TSGTKS ở Ấn Độ có xu hướng tăng dần khi trình độ học vấn tăng cao. Với phụ nữ mù chữ, TSGTKS là 108,7 so với người chỉ học hết tiểu học là 111,8, người học hết trung học là 113, và bậc cao hơn là khoảng 115[41][49]. Tại Trung Quốc đã có khá nhiều nghiên cứu và thống kê dân số cho thấy tình hình nghiêm trọng của mất cân bằng TSGT tại đây. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới và cũng là nơi có đặc thù áp dụng chính sách dân số hạn chế sinh đẻ với qui mô gia đình một con[32].
Nghiên cứu của Banister và Hill (2004) dựa trên phân tích số liệu tổng điều tra dân số và một số cuộc điều tra chọn mẫu tại Trung Quốc trong giai đoạn 1960-2000 đã chỉ ra rằng tỷ số giới tính tại Trung Quốc trong độ tuổi 4-14 không có gì bất thường. Trong khi đó, kể từ năm 1982 có sự tăng đáng kể tỷ số giới tính ở nhóm trẻ em từ 0-4 tuổi[42]. Nghiên cứu của tác giả Li (2007) cho thấy sự mất cân bằng về tỷ số giới tính khi sinh tại Trung Quốc khi phân tích số liệu tổng điều tra dân số năm 1982, 1990, 2000 và số liệu điều tra mẫu 1% các năm 1987, 1995, 2005. Theo đó, TSGTKS tăng đáng kể trong giai đoạn 1982-2005, vượt xa giá trị cân bằng 105.
Sự mất cân đối này cũng khác biệt rõ rệt theo thứ tự con sinh ra trong gia đình, theo tỉnh và giữa thành thị, nông thôn[46]. Các số liệu này cho thấy TSGTKS của vùng nông thôn Trung Quốc cao hơn thành thị. Tuy nhiên từ thập kỷ 1990 trở đi, TSGTKS tại các vùng đô thị cũng tăng, và phản ánh xu hướng TSGTKS cao bất thường trên toàn quốc. Số liệu TSGTKS năm 2005 của Trung Quốc đã lên tới 120,5 (trong đó nông thôn là 122,9 và thành thị là 119,9, riêng thành phố lớn là 115,2).