Chương 1 KIẾN THỨC THÔNG TIN ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH 1. Những vấn đề chung về kiến thức thông tin đối với sinh viên 1. Khái niệm về kiến thức thông tin Thuật ngữ kiến thức thông tin (Information Literacy) được các nước phát triển trên thế giới sử dụng nhiều và xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 70 của thế kỷ 20 [23]. Khái niệm đó cũng được một số nước phát triển khác sử dụng như Australian, New Zealand [36].
Ban đầu, khái niệm KTTT gắn liền với việc giải quyết vấn đề khủng hoảng và bùng nổ thông tin, được mô tả như một tập hợp các kỹ năng thu thập và xử lý thông tin. Đến năm 1987, khái niệm này được mở rộng và xem như một khái niệm về “cách thức học tập” và “học tập suốt đời”. Hiện nay, khi bàn về khái niệm kiến thức thông tin ở mỗi nước, mỗi tổ chức lại đưa ra những định nghĩa, quan niệm khác nhau: Theo UNESCO: “Kiến thức thông tin là sự kết hợp của kiến thức, sự hểu biết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông tin. Khi mỗi cá nhân có KTTT thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, đánh giá, sử dụng và trình bày thông tin một cách hiệu quả” [39, tr.
Theo Hiệp hội Thư viện đại học và Thư viện nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL, 2000): “Kiến thức thông tin là một tập hợp các khả năng đòi hỏi cá nhân để nhận ra khi thông tin là cần thiết và có khả năng xác định vị trí, đánh giá và sử dụng có hiệu quả các thông tin cần thiết” [37, tr. Theo Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ (ALA): “Kiến thức thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của bản thân, cũng như khả năng định vị, đánh giá và sử dụng hiệu quả thông tin tìm được” [35, tr. Viện Kiến thức thông tin Úc và New Zealand thì cho rằng, một người có KTTT là người có khả năng [36, tr.3-4]: 19 - Nhận dạng được nhu cầu tin của bản thân; - Xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần; - Thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả; - Phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thập hay tạo ra; - Biến nguồn thông tin được lựa chọn thành cơ sở tri thức; - Sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề, và ra quyết định một cách có hiệu quả; - Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin; - Truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức; - Sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và trách nhiệm xã hội; - Trải nghiệm KTTT như một phần của học tập độc lập cũng như tự học suốt đời. “Kiến thức thông tin” trong tiếng Việt đôi khi còn được gọi là kỹ năng thông tin, hiểu biết thông tin.
Gần đây, ở Việt Nam trên các diễn đàn, các tạp chí chuyên ngành đã có một số tác giả nghiên cứu về “Kiến thức thông tin”. Tác giả Trương Đại Lượng đã có một số bài viết về kiến thức thông tin [7, 8,9,10,11,12,]. Và một số tác giả như Nghiêm Xuân Huy [5,6], Vũ Thị Nha [17, 18], Ngô Thanh Thảo [30], Vũ Dương Thúy Ngà [15],… Còn tác giả Huỳnh Thị Trúc Phương xem là “kỹ năng thông tin” [19,20]. Các khái niệm đã sử dụng trên có cùng nội hàm và được sử dụng nhiều trong các bài viết.
Qua tìm hiểu các tài liệu liên quan, chúng ta có thể thấy rằng hầu hết các tác giả đều có một điểm chung là xem KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, khả năng định vị, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng thông tin cũng như thái độ sẵn sàng chia sẻ thông tin với mọi người. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kiến thức thông tin Trong quá trình phát triển KTTT cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau. Hoàn cảnh xã hội Trong tất cả những mối quan hệ xã hội, nhân cách không chỉ là một khách thể mà còn là một chủ thể. Cá nhân là một tồn tại có ý thức, có thể lựa chọn phương thức sống của mình và do đó, nó lựa chọn những phản ứng khác nhau trước tác động của hoàn cảnh xã hội.
Điều kiện xã hội là yếu tố có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực như kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, yếu tố xã hội đã tác động đến quá trình hình thành KTTT. Trong xã hội văn minh hay ở các nước phát triển, có nền giáo dục tiên tiến như một số nước như Mỹ, Australian and New Zealand thì KTTT sớm được hình thành và phát triển mạnh hơn [23, 36] so các nước với xã hội nghèo nàn, lạc hậu. Và một điều chắc chắn ở một xã hội phát triển có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế thì nhận thức của con người sẽ cao hơn, họ có điều kiện tốt hơn để tiếp cận với nền tri thức, tiếp cận và sử dụng thông tin sớm hơn, nhanh hơn.
Ngay trong một đất nước giữa các vùng, miền có điều kiện xã hội khác nhau cũng sẽ khác nhau về khả năng tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin khác nhau. Trong các cộng đồng dân cư ở các đô thị phát triển, văn minh sẽ có điều kiện tiếp cận nhiều với các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, internet, KTTT cao hơn so với cu dân các vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Chính những điều kiện xã hội trên đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và phát triển KTTT của mỗi cá nhân trong xã hội đó. Điều kiện kinh tế Cũng như điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế nó có tác động và ảnh hưởng mạnh đến các hoạt động của con người.
Để phát triển được KTTT thì cần phải có các yếu tố như cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực thông tin… Và điều kiện kinh tế là cơ sở tiên quyết, quyết định cho yêu cầu đó. Thực tế, trên thế giới ở các nước phát triển về kinh tế thì KTTT được phát triển mạnh so với các nước đang phát triển và chậm phát triển. Khi đời sống con 21 người được nâng cao về nhu cầu vật chất thì nhu cầu thông tin cũng cần phải được đáp ứng. Trước những yêu cầu đó thì KTTT của con người cũng được nâng cao.
Cũng như ở các trường đại học có điều kiện kinh tế thì vấn đề cơ sở hạ tầng trường học, trang thiết bị máy móc hiện đại cùng với nguồn nhân lực mạnh thì vấn đề đào tạo và phát triển KTTT được quan tâm và đầu tư tương xứng. Ở Việt Nam các trường đại học như Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, Trung tâm học liệu Đại học Huế, Thư viện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Y tế Công cộng nhờ có được điều kiện kinh tế tốt nên vấn đề KTTT được quan tâm và phát triển mạnh [7,10]. Văn hóa nhà trường Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong nhà trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của nhà trường đó.
Căn cứ theo hình thức biểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phần nổi có thể nhìn thấy như: không gian cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giao tiếp. và phần chìm không quan sát được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ. Phát triển KTTT có mối liên hệ chặt chẽ với quan điểm, chủ trương, chính sách của nhà trường về sự mệnh, tầm nhìn, chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ, giảng viên. Văn hóa nhà trường cần tạo ra cho sinh viên những điều kiện thuận lợi nhất trong các điều kiện họ có cơ hội được trang bị KTTT đầy đủ và bài bản, bám sát chương trình đào tạo cho sinh viên.
Năng lực tư duy Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều biến động khó lường trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Trong một môi trường sống, điều kiện sống như nhau thì năng lực tu duy của mỗi người luôn có sự khác nhau. Cùng trong một môi trường sống, nhưng người có năng lực tuy duy tốt họ sẽ là những người nhận biết thông tin nhanh hơn, tư duy phán đoán, xử lý thông tin sẽ nhanh hơn và đương nhiên họ sẽ có KTTT tốt hơn những người có năng lực tư duy hạn chế. 22 Năng lực tư duy này có được một phần do khả năng bẩm sinh, phần nữa là do học tập, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm mà có.
Để có được kiến thức, ngoài tư duy bẩm sinh, con người cần phải rèn luyện, học tập vì “kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người” (A. Người có năng lực tư duy sẽ thuận lợi hơn trong việc xác định nhu cầu thông tin, xây dựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin, thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin có hiệu quả. Trong thực tế, người có năng lực tư duy tốt họ sẽ làm cho thời gian lao động rút ngắn và hiệu quả lao động cao. Đối với hoạt động đào tạo KTTT cho sinh viên trường đại học, nếu trong môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ nhân lực tốt cùng với năng lực tư duy giữa người dạy và người học tốt thì hiệu quả của phát triển KTTT sẽ tốt hơn.
Phương pháp học tập của sinh viên Học tập trong xã hội thông tin là quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin và tích lũy thông tin dưới dạng tri thức, từ nhà trường hay trong môi trường sống, làm cho người học tự biến đổi về trí tuệ và làm phong phú thêm tri thức của mình, điều đó cũng làm thỏa mãn nhu cầu tự nhiên của mỗi người học. Từ năm 2007, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình giáo dục chuyển từ học niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng nhằm đổi mới chương trình giáo dục. Vì vậy, phương pháp học tập của sinh viên là một trong những yếu tố nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc tự học của họ.