Luận văn thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương cinnamomum balansae h lecomte tại huyện đồng hỷ và huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

Chuyên khảo phân tích Luận văn thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương cinnamomum balansae h lecomte tại huyện đồng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

68
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Tính cấp thiết của đề tài

1.3. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.4. Ý nghĩa trong thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.3.1.1. Vị trí địa lý

2.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - văn hóa, xã hội

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu

3.3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Hiện trạng phân bố của cây Gù hương trên địa bàn nghiên cứu

4.2. Chất lượng cây Gù hương có trong khu vực nghiên cứu

4.3. Trữ lượng của cây Gù hương trên địa bàn nghiên cứu

4.4. Thực trạng khai thác cây Gù hương trên địa bàn nghiên cứu

4.5. Tình hình sử dụng cây Gù hương

4.6. Đề xuất các biện pháp để bảo tồn và phát triển bền vững cây Gù hương

4.7. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong công tác bảo tồn loài Gù hương tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai - Thái Nguyên

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Trạng Khai Thác Cây Gù Hương Thái Nguyên

Việt Nam, một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, đang đối mặt với sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường và tài nguyên. Việc bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ cấp bách. Nghiên cứu về các loài thực vật còn thiếu, chủ yếu dừng lại ở mô tả hình thái. Đề tài "Thực trạng khai thác và sử dụng cây Gù hương (Cinnamomum balansae H. Lecomte) tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện để giải quyết vấn đề này. Mục tiêu là đánh giá thực trạng phân bố, khai thác, sử dụng và đề xuất biện pháp bảo tồn cây gù hương Thái Nguyên.

1.1. Giới thiệu chung về cây Gù Hương Cinnamomum balansae

Cây Gù hương (Cinnamomum balansae) thuộc họ Long não (Lauraceae), là loài cây gỗ quý hiếm, đa tác dụng. Hiện tại, loài này được xếp vào loại rất nguy cấp (CR) ở cấp quốc gia trong danh lục đỏ IUCN và Sách đỏ Việt Nam. Giá trị cây gù hương nằm ở gỗ có mùi thơm, không bị mối mọt, được ưa chuộng để đóng đồ đạc. Tinh dầu từ thân và lá chứa long não. Hoạt động khai thác trái phép đang là điểm nóng.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu khai thác và sử dụng Gù Hương

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng kiến thức đã học, làm quen với nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức, và biết cách làm việc với cộng đồng. Đề tài cung cấp tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau và làm cơ sở cho việc sử dụng bền vững loài cây có giá trị này. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp chính quyền địa phương và người dân xác định hướng bảo tồn và phát triển cây gù hương.

II. Vấn Đề Khai Thác Quá Mức Cây Gù Hương Thực Trạng Đáng Báo Động

Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam đang bị suy giảm do nhiều nguyên nhân. Nhiều hệ sinh thái và loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chính phủ đã đề ra các biện pháp bảo vệ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Tình hình khai thác gù hương trái phép diễn ra phức tạp. Cây bị khai thác để lấy gỗ, tinh dầu, và các sản phẩm khác. Việc khai thác quá mức dẫn đến suy giảm số lượng và chất lượng gù hương tự nhiên.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến khai thác trái phép cây Gù Hương

Việc khai thác trái phép cây gù hương xuất phát từ giá trị kinh tế cao của loài cây này. Gỗ gù hương được ưa chuộng để làm đồ mỹ nghệ, đồ gia dụng, và các sản phẩm khác. Tinh dầu gù hương có giá trị trong y học và mỹ phẩm. Nhu cầu thị trường cao thúc đẩy hoạt động khai thác trái phép, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quần thể gù hương tự nhiên.

2.2. Hậu quả của việc khai thác không bền vững cây Gù Hương

Khai thác không bền vững cây gù hương dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng. Suy giảm số lượng cây gù hương trong tự nhiên, đe dọa sự tồn tại của loài. Mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác phụ thuộc vào cây gù hương. Suy giảm đa dạng sinh học của khu vực. Ảnh hưởng đến kinh tế địa phương, do mất đi nguồn tài nguyên có giá trị.

2.3. Luật pháp về khai thác Gù Hương và thực thi

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cây gù hương thuộc nhóm IIA, là loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm, được bảo vệ. Việc khai thác cây gù hương phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt. Tuy nhiên, tình trạng khai thác trái phép vẫn diễn ra do nhiều nguyên nhân, bao gồm: thiếu sự giám sát, quản lý chặt chẽ; chế tài xử phạt chưa đủ mạnh; nhận thức của người dân về bảo tồn còn hạn chế.

III. Phương Pháp Bảo Tồn và Phát Triển Bền Vững Cây Gù Hương

Để bảo tồn và phát triển bền vững cây gù hương, cần có các giải pháp đồng bộ. Các biện pháp bao gồm: tăng cường quản lý, bảo vệ rừng; ngăn chặn khai thác trái phép; phục hồi rừng gù hương; phát triển gù hương trồng; nâng cao nhận thức cộng đồng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, và người dân.

3.1. Quản lý và bảo vệ rừng Gù Hương tự nhiên hiệu quả

Tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn khai thác trái phép cây gù hương. Xây dựng các khu bảo tồn gù hương, bảo vệ nghiêm ngặt các quần thể tự nhiên. Phục hồi rừng gù hương bằng cách trồng bổ sung, tái sinh tự nhiên. Áp dụng các biện pháp lâm sinh để cải thiện chất lượng rừng gù hương.

3.2. Phát triển mô hình trồng Gù Hương bền vững

Khuyến khích người dân trồng cây gù hương trên đất trống, đồi trọc. Hỗ trợ kỹ thuật, giống, vốn cho người dân trồng gù hương. Xây dựng các mô hình trồng gù hương kết hợp với các loài cây khác. Đảm bảo quyền lợi của người dân khi tham gia trồng gù hương.

3.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn Gù Hương

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về giá trị của cây gù hương và tầm quan trọng của việc bảo tồn. Vận động người dân tham gia bảo vệ rừng gù hương, ngăn chặn khai thác trái phép. Xây dựng các quy ước, hương ước về bảo vệ cây gù hương trong cộng đồng. Khuyến khích sử dụng các sản phẩm từ gù hương trồng.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Kết Quả Khảo Sát Thực Tế Tại Thái Nguyên

Nghiên cứu tại huyện Đồng Hỷ và Võ Nhai, Thái Nguyên cho thấy tình hình khai thác gù hương vẫn diễn ra phức tạp. Số lượng cây gù hương tự nhiên còn rất ít, chủ yếu là cây tái sinh. Người dân sử dụng gỗ gù hương để làm nhà, đồ gia dụng, và các sản phẩm khác. Cần có các biện pháp bảo tồn và phát triển cây gù hương phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

4.1. Phân bố và trữ lượng cây Gù Hương tại Đồng Hỷ và Võ Nhai

Kết quả khảo sát cho thấy phân bố cây gù hương Thái Nguyên chủ yếu ở các khu vực rừng tự nhiên còn sót lại. Trữ lượng gù hương còn rất thấp, chủ yếu là cây tái sinh, cây non. Các cây lớn, có giá trị kinh tế cao đã bị khai thác gần hết. Cần có các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực còn cây gù hương.

4.2. Tình hình khai thác và sử dụng Gù Hương của người dân địa phương

Người dân địa phương sử dụng gỗ gù hương để làm nhà, đồ gia dụng, và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Một số người dân khai thác gù hương trái phép để bán cho thương lái. Cần có các giải pháp hỗ trợ người dân phát triển kinh tế bền vững, giảm áp lực khai thác gù hương.

4.3. Đánh giá chất lượng cây Gù Hương còn lại tại Thái Nguyên

Chất lượng cây gù hương còn lại tại Thái Nguyên không cao. Phần lớn là cây tái sinh, cây non, có kích thước nhỏ. Các cây lớn, có chất lượng gỗ tốt đã bị khai thác gần hết. Cần có các biện pháp lâm sinh để cải thiện chất lượng cây gù hương.

V. Kết Luận và Kiến Nghị Về Bảo Tồn Cây Gù Hương

Việc bảo tồn và phát triển cây gù hương là nhiệm vụ cấp bách. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, và người dân. Các biện pháp bảo tồn cần phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Cần có các chính sách hỗ trợ người dân tham gia bảo tồn và phát triển cây gù hương.

5.1. Tóm tắt các giải pháp bảo tồn và phát triển Gù Hương

Các giải pháp bao gồm: tăng cường quản lý, bảo vệ rừng; ngăn chặn khai thác trái phép; phục hồi rừng gù hương; phát triển gù hương trồng; nâng cao nhận thức cộng đồng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, và người dân.

5.2. Kiến nghị chính sách và hành động cụ thể để bảo tồn Gù Hương

Đề nghị Nhà nước ban hành các chính sách hỗ trợ người dân tham gia bảo tồn và phát triển cây gù hương. Tăng cường đầu tư cho công tác bảo tồn gù hương. Xây dựng các chương trình, dự án bảo tồn gù hương cụ thể. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn gù hương.

05/06/2025
Luận văn thực trạng khai thác và sử dụng cây gù hương cinnamomum balansae h lecomte tại huyện đồng hỷ và huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sự tồn tại của xã hội loài người liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật. Tuy nhiên con người đang lạm dụng quá mức việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên này và kết quả là tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật, môi trường bị suy thoái, gây ra mất cân bằng sinh thái, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật trong đó có loài người của chúng ta. Sức khỏe của hành tinh phụ thuộc vào sự đa dạng của các loài sinh vật. Vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học được coi là nhiệm vụ rất cấp bách hiện nay và cũng là trách nhiệm của toàn nhân loại.

Nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á với tổng diện tích tự nhiên khoảng 330.541 km² Việt Nam được coi là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học của khu vực cũng như thế giới. Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một thực trạng rất đáng lo ngại đó là sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường và tài nguyên đa dạng sinh học, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật và cuối cùng là ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn và hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn.

Mặc dù các loài thực vật được bảo tồn cao như vậy, nhưng những nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về các đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài. 2 Do đó tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Thƣ̣c tra ̣ng khai thác và sử dụng cây Gù hƣơng (Cinnamomum balansae H. Lecomte) tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” 1.

Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được thực trạng phân bố của loài Gù hương tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. - Xác định được thực trạng khai thác cây Gù hương tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. - Xác định được tình hình sử dụng cây Gù hương tại huyện Đồng Hỷ và Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. - Dựa vào kết quả nghiên cứu, đề xuất được các biện pháp bảo tồn và phát triển loài Gù hương tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.

Tính cấp thiết của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Đề tài là việc vận dụng những kiến thức mà sinh viên tiếp thu được trong quá trình học tập tại trường và nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người thực hiện. Đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học,vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách tích lũy, thu nhập, phân tích, xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. Đề tài sau khi hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sau đó và làm cơ sở cho việc sử dụng bền vững loài cây có giá trị của cộng đồng.

Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài góp phần đánh giá thực trạng khai thác và tiǹ h hì nh sử dụng loài cây Gù hương và từ những biê ̣n pháp đề xuất được sẽ là cơ sở giúp chính quyền địa phương, người dân xác định được hướng bảo tồn, phát triển loài cây có giá trị này. 3 Phầ n 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong một tương lai gần.

Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo về tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn loài và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH…vv. Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH thì trong đó Gù hương (Cinnamomum balansae ) thuộc hộ Long não (Lauraceae) là một loài cây quý, đa tác dụng. Hiện tại nó được xếp vào loại rất nguy cấp (CR) ở cấp quốc gia trong danh lục đỏ IUCN (Ver 2.3) và trong sách đỏ Việt Nam(1996).

Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ. Hiê ̣n nay thì cây Gù hương đươ ̣c sử du ̣ng theo 3 dạng khác nhau là sử dụng trong cuô ̣c số ng hàng ngày , sử du ̣ng trong nghiên cứu khoa ho ̣c , sử du ̣ng cho môi trường và sinh cảnh. Trong cuô ̣c số ng hàng ngày thì cây Gù hương đươ ̣c sử du ̣ng làm lũa , làm vật liệu xây dựng , làm đồ thủ công mỹ nghệ và đồ trang trí nội thất trong gia đình. Hiê ̣n này các nhà n ghiên cứu trên thế giới và Viê ̣t Nam đang nghiên cứu loài cây này như thực hiê ̣n các dự án về bảo tồ n , giâm hom phát triể n cây.

Ngoài ra cây còn được sử du ̣ng cho môi trường như ta ̣o bóng mát và làm tăng sự đa dạng cho sinh cảnh. Do có giá trị kinh tế cao nên hiện nay hoạt động khai thác trái phép cây này ở Việt Nam đang là một điểm 4 nóng (Lê Trọng Trái và cộng tác viên, 1999) [8]. Đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc 2.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cây gù hương tên khoa học Cinnamomum balansae, Thuộc họ Re - Lauraceae, Bộ Long não Laurales, Chi Cinnamomum. Loài này được H. Lecomte nghiên cứu, mô tả và đặt tên khoa học đầu tiên năm 1913. Balansae Danh pháp hai phần Cinnamomum balansae LECOMTE, 1913 2.

Tình hình nghiên cứu trong nước Gù hương (Cinnamomum balansae) Cây gỗ to, thường xanh, cao tới 50 m, đường kính thân 0,7 - 1,2 m; cành nhẵn, màu hơi đen khi khô. Lá mọc cách, dai, hình trứng, dài 9 - 11 cm, rộng 4 - 5 cm, thót nhọn về hai đầu; gân bậc hai 4 - 5 đôi; cuống lá dài 2 - 3 cm, nhẵn. Cụm hoa chuỳ, ở nách lá, dài 4 - 5 cm, phủ lông ngắn màu nâu; cuống hoa dài 1 - 4 mm, phủ lông; bao hoa 6 thuỳ, có lông; nhị hữu thụ 9, bao phấn 4 ô; 3 nhị vòng trong cùng mỗi nhị có 2 tuyến; nhị lép 3, hình tam giác, có chân; bầu hình trứng, nhẵn, vòi ngắn, 5 núm hình đĩa. Quả hình cầu, đuờng kính 8 - 10 mm, đính trên đế hoa hình chén.

Mùa hoa vào tháng 1 - 5, mùa quả chín tháng 6 - 9. Tái sinh bằng hạt hoặc giâm cành. Là Loài đặc hữu của Việt Nam. Trong thân và lá có tinh dài với thành phần chính là long não, Hạt chứa dầu béo, gỗ tốt, không bị mối mọt, có mùi long não nên được ưa chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà như tủ, bàn ghế , vốn là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ.

Loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007) [2]. Gù hương trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm đã được xếp trong nhóm IIA (Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006) [6]. Loài cây có phân bố rải rác ở khu vực đồi, núi thấp của của các tỉnh phía Bắc miền Trung Nam Bộ Việt Nam. Hiện nay, số lượng cây Gù hương còn rất ít, chỉ còn thấy ở VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vườn hộ ở Thạch Thành (Thanh Hoá) và rải rác ở một số nơi; song hiện nay đã bị khai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong rừng tự nhiên nên được xếp vào loại hiếm (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 2007) [1].

Khó tìm thấy cây có kích thước lớn và không phải cây trưởng thành nào cũng có quả, thu hái hạt giống ở cây lớn rất khó khăn, mặt khác do hạt có chứa nhiều tinh dầu, nhanh mất sức nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm thấp, cho nên việc thử nghiệm nhân giống bằng hom để góp phần lưu giữ nguồn gen là hết sức cần thiết (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ, 2009 ) [7]. Khi điều tra cho thấy vào khoảng những năm 1990 trở về trước, các loài cây gỗ lớn và quý vẫn còn nhiều. Đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1947-1954), rừng Định Hóa còn được coi là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, rừng có nhiều tầng tán, nhiều cây gỗ lớn và quý, đường kính cây Gù hương đường kính có thể từ 1m đến 2m. Tuy nhiên, hiện nay các cây gỗ có đường kính thân cây 0,7m trở lên và các cây gỗ quý như 6 Đinh, Lim, Sến, Táu, Nghiến, Gù hương.

còn rất ít, chúng chỉ xuất hiện chủ yếu ở các khu di tích (Đồi Khau Tý, Khuôn Tát, Tỉn Keo) và rải rác trong các khu rừng tự nhiên, các cây có kích thước nhỏ hơn thường bị cong queo hoặc sâu bệnh. Sở dĩ có hiện tượng nêu trên là do nạn chặt phá rừng trái phép xảy ra thường xuyên của lâm tặc. Bên cạnh đó, nhóm cây này cũng đã và đang bị người dân khai thác quá mức, họ sử dụng gỗ để làm nhà, chuồng trại cho gia cầm, gia súc, nạn đốt rừng làm nương rẫy cũng là những nguyên nhân chính làm cho nguồn tài nguyên này bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng, ít có khả năng phục hồi (Nguyễn Anh Hùng , 2012) [5] - Theo báo cáo (Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP. Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp.

Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2010. Theo vùng sinh thái) [13]. Cây Gù hương còn rải rác vài cá thể trong rừng ở vùng phân bố tự nhiên, chủ yếu là cây tái sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ