CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề học hòa nhập của trẻ khiếm thị được nhiều người quan tâm nghiên cứu với những công trình ở trong và ngoài nước.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ nhiều năm trước, một số nước trên thế giới đã tiến hành thực hiện giáo dục cho HS khuyết tật với hình thức chủ yếu là giáo dục tại trường chuyên biệt, nhà thờ, nhà chùa, bệnh viện, hay các cơ sở từ thiện. Chủ trương GDHN trên thế giới chỉ được khởi đầu từ Tuyên bố về quyền con người năm 1948. Hội nghị giáo dục năm 1990 được tổ chức tại Jomtien- Thái Lan và Hội nghị Thượng đỉnh về trẻ em ở New York năm 1990 thống nhất chương trình mục tiêu đến năm 2000 “Giáo dục cho mọi người” (Education For All). Sau năm 1994, trên thế giới có nhiều nghiên cứu về giáo dục hòa nhập, cách thức tổ chức giáo dục hòa nhập như: + Nghiên cứu về thái độ và việc học hòa nhập cho trẻ khuyết tật như: GethingL (1991) Generality vs specificity of Attitudes towards people with Disabilities, Bristish Journal of Medical psychlogy, 64, 55-64.
+ Nhóm các nhà giáo dục học khiếm thị tại các nước Liên Xô cũ: A. xokolianxki: nghiên cứu về giáo dục trẻ khiếm thị, tâm lý học khiếm thị. + Nhóm các nhà nghiên cứu về giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thị tại Hà Lan: A.Melis, Myrna Eisenjing: nghiên cứu về hình thức tổ chức GDHN cho trẻ khiếm thị. + Một số nhà nghiên cứu giáo dục khiếm thị Châu Á như: Prayat Phunong Ong (Thái Lan), Manni (Ấn Độ), Usami (Nhật Bản): nghiên cứu về cách thực hiện giáo dục trẻ khiếm thị.
Peter mittler (Tạp chí phục hồi chức năng người khuyết tật Châu Á- Thái Bình Dương) đã nhận định: Thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và 11 hệ thống giáo dục là rất quan trọng đối với GDHN. Việc thay đổi này bao gồm việc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đẩy mối quan hệ giữa thầy và trò, tạo cơ hội để mọi trẻ được học tập cùng nhau và thúc đẩy sự tham gia của phụ huynh. Nhìn chung các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mô hình GDHN cho HS khuyết tật nói chung, cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện mà chưa nghiên cứu sâu về thực trạng học tập của học sinh khiếm thị.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục đặc biệt cho trẻ khiếm thị ở Việt Nam được đánh dấu bằng việc tác giả Nguyễn Văn Chí- một người mù từ Pháp về đã du nhập chữ nổi Braille vào Việt Nam năm 1898. Năm 1903, ông mở trường dạy trẻ khiếm thị đầu tiên của Việt Nam đặt tại khuân viên bệnh viện chợ Rẫy.
Năm 1926, trường mù Sài Gòn ra đời tại 184 Nguyễn Chí Thanh (tiền thân của trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu ngày nay). Tuy các ngành khoa học giáo dục, tâm lý, xã hội học của Việt Nam còn rất non trẻ so với các nước đang phát triển. Vấn đề này cũng có nhiều công trình nghiên cứu như: + Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh khiếm thị, Hà Nội của thầy Nguyễn Hữu Chùy (năm 2001). Đề tài nghiên cứu một số quan điểm về giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho trẻ khuyết tật, một số vấn đề về đặc điểm tâm lý HS khuyết tật khi tiếp cận hướng nghiệp.
Đề tài cũng nghiên cứu xu hướng dạy nghề chung của thế giới liên quan đến trẻ khuyết tật và xu hướng, triển vọng về hướng nghiệp và dạy nghề cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam. + Năm 1995, trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật - Viện Khoa học Giáo dục đã triển khai chương trình GDHN TKT trong đó có trẻ khiếm thị tại 33 tỉnh thành trong cả nước. Các công trình nghiên cứu có thể kể đến như: Giáo trình giảng dạy GV dạy trẻ có tật thị giác, GDHN cộng đồng, GDHN trẻ khuyết tật. 12 + Năm 1992, đề tài nghiên cứu khoa học “ Các điều kiện tổ chức GDHN cho HSKT bậc tiểu học”- Phan Thị Xuân- hiệu trưởng trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu triển khai và thực nghiệm tại TP.
Hồ Chí Minh. Đề tài đã nêu được các điều kiện cần thiết khi tổ chức GDHN ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh. + Năm 2006, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “ Một số biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập học sinh khiếm thị của hiệu trưởng các trường tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh”, Hà Thanh Vân.
Đề tài đã nêu được thực trạng việc quản lý GDHN HS khiếm thị của hiệu trưởng các trường tiểu học, trên cơ sở đó đề ra một số biện pháp quản lý GDHN HS khiếm thị của hiệu trưởng các trường tiểu học ở Tp. Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như: + Thập kỷ giáo dục hòa nhập Việt Nam thành tựu và viễn cảnh: Lê Văn Tạc- Viện chiến lược và chương trình giáo dục, bài viết đã nêu được thực trạng trẻ khuyết tật ở Việt Nam, sự cần thiết của GDHN. Bài viết cho biết những thành tựu trong GDHN, các giải pháp GDHN và định hướng phát triển cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam.
+ Tìm hiểu nhận thức của phụ huynh về việc trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non- luận văn cử nhân giáo dục đặc biệt của Nguyễn Thị Luyến, 2002. Đề tài đã tìm hiểu nhận thức của phụ huynh về việc trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non, định hướng việc nâng cao nhận thức của phụ huynh, góp phần mở rộng việc nâng cao việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở trường mầm non. Đề tài chỉ nghiên cứu nhận thức của phụ huynh về việc trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non mà chưa nghiên cứu thực trạng học hòa nhập của trẻ khiếm thị. + Thực trạng nhận thức của giáo viên, học viên trường Trung học Sư phạm Mầm Non Tp.
Hồ CHí Minh về việc giáo dục trẻ khuyết tật- luận văn cử nhân giáo dục đặc biệt của Tôn Nữ Cẩm Thạch, 2002. Đề tài đã làm rõ được thực trạng nhận thức của giáo viên và học viên của trường THSP Mầm non về việc giáo dục trẻ khuyết tật, từ đó hướng tới việc nâng cao nhận thức của các 13 em giáo sinh và các giáo viên mầm non đang học nâng cao tại trường THSP Mầm non về việc giáo dục trẻ khuyết tật. Đề tài chưa nghiên cứu được nhận thức của học sinh khiếm thị học hòa nhập cũng như những thuận lợi và khó khăn mà học sinh khiếm thị gặp trong quá trình học hòa nhập ở một số trường tiểu học tại tp. Hồ Chí Minh.
+ Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật Việt Nam từ năm 2003-2010 của thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đặng Huỳnh Mai. Bài viết cho thấy được việc giáo dục trẻ khuyết tật là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hôi và cộng đồng. Việc xây dựng mục tiêu và chính sách giáo dục là nhằm cải thiện tình trạng và điều kiện của trẻ khuyết tật để các em có cuộc sống tốt đẹp hơn về nhiều mặt như giáo dục, hướng nghiệp, sức khỏe, phương tiện đi lại và tham gia vào nhiều lĩnh vực xã hội khác. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về mô hình GDHN cho HS khuyết tật nói chung, hướng nghiệp và dạy nghề, nhận thức của giáo viên và phụ huynh về giáo dục trẻ khuyết tật mà chưa nghiên cứu sâu về thực trạng hoạt động học hòa nhập của HS khiếm thị, nhận thức, thái độ, hứng thú cũng như những thuận lợi và khó khăn của học sinh khiếm thị trong quá trình học hòa nhập ở một số trường tiểu học tại tp.
Hồ Chí Minh.2 Một số khái niệm về trẻ khuyết tật: 1.1 Khái niệm trẻ khuyết tật: Trước khi đưa ra định nghĩa về trẻ khiếm thị, chúng tôi đưa ra một số khái niệm về trẻ khuyết tật: - Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật, thuật ngữ “ người tàn tật” có nghĩa là bất cứ những người nào không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ. - Quy tắc tiêu chuẩn của LHQ về bình đẳng văn hóa các cơ hội cho người tàn tật: Thụât ngữ “tàn tật” tóm tắt một số lớn các hạn chế về chức năng xuất 14 hiện trong bất kỳ một cộng đồng dân của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Con người có thể bị tàn tật do khuyết tật về thể chất, trí tuệ hoặc các giác quan, các tình trạng bệnh lý hay bệnh tâm thần. Các tình trạng khuyết tật, điều kiện hoặc sinh lý như vậy có thể là vĩnh viễn hoặc tạm thời.
- Theo công ước của LHQ về quyền trẻ em đã đồng ý xác định trẻ em “ là người dưới 18 tuổi”. Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác về trẻ khuyết tật: - Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Châm – Vụ giáo dục mầm non định nghĩa: “Trẻ khuyết tật là những trẻ giảm hoặc mất khả năng về nhìn, nghe, nói, vận động phát triển trí tuệ hoặc có những cấu tạo và hành vi bất thường không giống như trẻ bình thường ”. - Trong cách nhìn nhận của giáo dục: trẻ khuyết tật là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, sai lệch về chức năng cơ thể dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, hoạt động xã hội và học tập theo chương trình giáo dục phổ thông. Khuyết tật ở trẻ gồm các nhóm: khiếm thính, khiếm thị, trí tuệ, ngôn ngữ, vận động, đa tật và các tật khác.
- Pháp lệnh về người tàn tật (điều 1): người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết hay một phần nhiều cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt học tập gặp nhiều khó khăn. Từ đó, họ đưa ra khái niệm trẻ khuyết tật: “Trẻ khuyết tật là những trẻ từ 0 – 18 tuổi, không kể những nguyên nhân của khuyết tật, thiếu một hoặc hơn các bộ phận hoặc chức năng cơ thể khiến giảm khả năng hành động và gây khó khăn trong công việc, cuộc sống và học tập”.(16) Từ việc phân tích các định nghĩa trên cho thấy có nhiều dạng khuyết tật khác nhau, chúng tôi đưa ra một số loại khuyết tật như sau: * Khuyết tật thị giác: Là những trẻ giảm hoặc mất khả năng về nhìn.