Luận văn: Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị

Luận văn phân tích thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai tại Quảng Trị, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.

Chuyên ngành

Quản Lý Đất Đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai tại Quảng Trị

Hòa giải tranh chấp đất đai là một phương thức giải quyết mâu thuẫn mang tính truyền thống, được pháp luật Việt Nam khuyến khích nhằm giữ gìn tình làng nghĩa xóm và ổn định xã hội. Tại Quảng Trị, công tác này đóng vai trò then chốt trong việc xử lý các bất đồng về quyền sử dụng đất ngay từ cơ sở. Theo Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Ánh Sáng (2019), việc nghiên cứu có hệ thống các quy định pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải là vô cùng cần thiết. Thực tiễn tại thị xã Quảng Trị cho thấy công tác hòa giải ở cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần giảm tải áp lực cho các cơ quan hành chính và Tòa án. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đòi hỏi cần có những đánh giá khách quan và các giải pháp đồng bộ. Việc phân tích sâu thực trạng không chỉ giúp nhận diện các ưu điểm cần phát huy mà còn chỉ ra những vướng mắc cần khắc phục, đặc biệt trong bối cảnh Luật Đất đai 2024 sắp có hiệu lực, hứa hẹn mang lại nhiều thay đổi quan trọng trong quy trình và thẩm quyền giải quyết.

1.1. Vai trò của hòa giải ở cơ sở trong quản lý đất đai

Hòa giải ở cơ sở được xem là bước đệm quan trọng, là tuyến phòng thủ đầu tiên trong việc ngăn chặn các khiếu nại đất đai tại Quảng Trị leo thang. Về bản chất, đây là quá trình các bên tự thương lượng dưới sự hỗ trợ của một bên thứ ba trung lập, thường là Hội đồng hòa giải cấp xã hoặc những người có uy tín trong cộng đồng. Lợi ích chính của phương thức này là tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và nhà nước. Một vụ việc được giải quyết thành công tại cơ sở giúp củng cố tình đoàn kết, tránh những xung đột kéo dài gây mất an ninh trật tự. Hơn nữa, vai trò của UBND cấp xã được thể hiện rõ nét khi họ là đơn vị trực tiếp tổ chức, điều phối và xác nhận kết quả hòa giải. Theo quy định, đây là thủ tục tiền tố tụng bắt buộc trước khi một vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại cơ quan hành chính hoặc Tòa án, khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu của nó trong hệ thống pháp luật đất đai hiện hành.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Cơ sở pháp lý cho hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 và Luật Hòa giải ở cơ sở. Các văn bản này đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh, xác định rõ trình tự, thành phần và trách nhiệm của các bên liên quan. Theo đó, khi phát sinh tranh chấp, nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải. Nếu không thành, các bên gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để tiến hành hòa giải. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã đòi hỏi sự phối hợp giữa cán bộ địa chính xã, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Kết quả hòa giải phải được lập thành biên bản hòa giải thành hoặc biên bản hòa giải không thành, có chữ ký của các bên và xác nhận của UBND. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các bên thực hiện quyền của mình ở các bước tiếp theo, như khởi kiện ra tòa án hoặc đề nghị UBND cấp có thẩm quyền giải quyết.

II. Top khó khăn vướng mắc trong hòa giải tranh chấp đất đai Quảng Trị

Mặc dù có vai trò quan trọng, công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại Quảng Trị vẫn đối mặt với không ít thách thức. Báo cáo nghiên cứu cho thấy những khó khăn trong công tác hòa giải xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Thứ nhất, hệ thống pháp luật tuy đã có nhưng một số quy định còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Thứ hai, năng lực của một bộ phận cán bộ làm công tác hòa giải còn hạn chế, thiếu kỹ năng và kiến thức pháp luật chuyên sâu. Thứ ba, nhận thức của người dân về pháp luật đất đai chưa cao, nhiều trường hợp không hợp tác hoặc cố tình kéo dài vụ việc. Các nguyên nhân tranh chấp đất đai thường phức tạp, liên quan đến lịch sử để lại, hồ sơ địa chính không đầy đủ hoặc sai sót. Những vấn đề này tạo ra rào cản lớn, làm giảm tỷ lệ hòa giải thành công và gia tăng số vụ việc phải chuyển lên cấp cao hơn giải quyết.

2.1. Phân tích các nguyên nhân tranh chấp đất đai phổ biến

Nghiên cứu tại thị xã Quảng Trị chỉ ra một số nguyên nhân tranh chấp đất đai chính. Phổ biến nhất là tranh chấp về ranh giới, lối đi chung do quá trình sử dụng lâu dài không có giấy tờ rõ ràng. Tiếp theo là các tranh chấp liên quan đến thừa kế, cho tặng quyền sử dụng đất không được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Một nguyên nhân khác đến từ sự thay đổi chính sách pháp luật đất đai qua các thời kỳ, dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng chéo. Bên cạnh đó, việc quản lý hồ sơ địa chính tại một số địa phương còn yếu kém, thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc xác minh nguồn gốc đất. Cuối cùng, yếu tố tâm lý, tình cảm cá nhân và sự thiếu hiểu biết pháp luật của các bên cũng là tác nhân quan trọng đẩy các mâu thuẫn nhỏ thành những tranh chấp phức tạp, khó giải quyết.

2.2. Hạn chế về năng lực cán bộ địa chính xã và Hội đồng hòa giải

Chất lượng của đội ngũ thực hiện là yếu tố quyết định hiệu quả hòa giải. Tuy nhiên, thực tế cho thấy năng lực của một số cán bộ địa chính xã và thành viên Hội đồng hòa giải còn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều cán bộ kiêm nhiệm nhiều việc, không được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng hòa giải, thuyết phục và kiến thức pháp luật đất đai. Thành phần Hội đồng hòa giải đôi khi mang tính hình thức, không đúng quy định, dẫn đến việc khi hòa giải không thành, Tòa án có thể từ chối thụ lý và yêu cầu hòa giải lại. Sự thiếu chuyên nghiệp này không chỉ làm giảm lòng tin của người dân mà còn kéo dài thời gian giải quyết vụ việc, gây tốn kém và bức xúc. Việc thiếu cơ chế chính sách đãi ngộ hợp lý cũng là một trong những rào cản trong việc thu hút người có năng lực tham gia vào công tác này.

2.3. Hiệu lực pháp lý của biên bản hòa giải thành và không thành

Một vướng mắc pháp lý lớn là giá trị của biên bản hòa giải thành. Theo Luận văn của Hoàng Ánh Sáng, pháp luật chưa quy định cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên khi hòa giải thành tại UBND cấp xã, trừ trường hợp có thay đổi hiện trạng ranh giới. Điều này dẫn đến tình trạng, sau khi ký biên bản, một trong các bên có thể thay đổi ý kiến và không thực hiện, khiến kết quả hòa giải mất đi ý nghĩa. Về cơ bản, biên bản này không có giá trị thi hành án, làm giảm vai trò và tính nghiêm túc của công tác hòa giải ở cơ sở. Đối với biên bản hòa giải không thành, nó là điều kiện cần để các bên tiếp tục thủ tục giải quyết tại Tòa án hoặc UBND có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nhưng quá trình để có được biên bản này đôi khi lại gặp nhiều trở ngại do sự thiếu hợp tác của một bên.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hòa giải tranh chấp đất đai tại Quảng Trị

Để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác hòa giải, cần triển khai một cách đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả hòa giải. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý mà còn chú trọng đến việc nâng cao năng lực thực thi và nhận thức của cộng đồng. Trọng tâm là phải tăng cường vai trò của UBND cấp xã với tư cách là cơ quan trực tiếp tiến hành hòa giải. Cần có một cơ chế rõ ràng, hiệu quả để đảm bảo các quyết định hòa giải được tôn trọng và thực thi. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào con người, cụ thể là đội ngũ hòa giải viên và cán bộ địa chính, là yếu-tố-sống-còn. Một quy trình hòa giải chuyên nghiệp, minh bạch và dựa trên nền tảng pháp luật vững chắc sẽ góp phần xây dựng lòng tin của người dân, từ đó tăng tỷ lệ hòa giải thành công và giảm thiểu các khiếu nại đất đai tại Quảng Trị.

3.1. Hoàn thiện quy trình thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Một trong những giải pháp hàng đầu là cần chuẩn hóa thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai. Cần có văn bản hướng dẫn chi tiết về thành phần bắt buộc của Hội đồng hòa giải, quy trình tiếp nhận đơn, xác minh thông tin, tổ chức buổi hòa giải và lập biên bản. Đặc biệt, cần quy định rõ cơ chế pháp lý để công nhận kết quả của biên bản hòa giải thành, tương tự như quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại Tòa án. Điều này sẽ nâng cao giá trị pháp lý của hoạt động hòa giải tại cơ sở, đảm bảo các bên nghiêm túc thực hiện thỏa thuận. Cùng với đó, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị cần phối hợp với các cơ quan tư pháp để ban hành các quy chế phối hợp, đảm bảo sự liên thông, thống nhất trong việc xử lý các vụ việc sau hòa giải.

3.2. Nâng cao năng lực cho cán bộ địa chính và hòa giải viên

Con người là yếu tố trung tâm. Do đó, cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật đất đai, đặc biệt là các quy định mới của Luật Đất đai 2024, và các kỹ năng mềm như giao tiếp, thuyết phục, giải quyết xung đột cho đội ngũ cán bộ địa chính xã và hòa giải viên. Cần xây dựng một đội ngũ hòa giải viên chuyên nghiệp, am hiểu pháp luật và có uy tín trong cộng đồng. Chính sách đãi ngộ, khen thưởng hợp lý cần được thiết lập để động viên, khuyến khích những cá nhân làm tốt công tác này. Việc nâng cao năng lực chuyên môn không chỉ giúp họ tự tin hơn khi xử lý các vụ việc phức tạp mà còn đảm bảo quá trình hòa giải diễn ra khách quan, công bằng, đúng pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai ngay từ đầu.

IV. Phân tích số liệu tranh chấp đất đai tại Quảng Trị 2014 2018

Để đánh giá khách quan thực trạng, việc phân tích số liệu tranh chấp đất đai là vô cùng quan trọng. Theo Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Ánh Sáng, giai đoạn từ tháng 7/2014 đến tháng 6/2018 tại thị xã Quảng Trị đã ghi nhận một bức tranh rõ nét về công tác hòa giải. Các số liệu thống kê từ UBND các phường, xã và Tòa án Nhân dân thị xã cho thấy cả những thành tựu và thách thức. Cụ thể, số lượng vụ việc được đưa ra hòa giải ở cấp xã là khá lớn, cho thấy người dân đã có ý thức tuân thủ thủ tục tiền tố tụng. Tuy nhiên, tỷ lệ hòa giải thành công vẫn chưa đạt như kỳ vọng, phản ánh những khó khăn trong công tác hòa giải đã được đề cập. Việc phân tích các con số này giúp các nhà quản lý xác định được những điểm nóng về tranh chấp và những "nút thắt" trong quy trình, từ đó đưa ra các chính sách can thiệp kịp thời và phù hợp.

4.1. Thống kê tỷ lệ hòa giải thành công và thất bại tại cấp xã

Số liệu từ Bảng 3.5 của nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn 2014-2018, UBND các phường, xã trên địa bàn thị xã Quảng Trị đã thụ lý hàng chục vụ việc. Tỷ lệ hòa giải thành công có sự dao động qua các năm và giữa các địa phương. Các vụ hòa giải thành thường là những tranh chấp đơn giản, chủ yếu về ranh giới, mốc giới giữa các hộ gia đình liền kề có mối quan hệ láng giềng tốt. Ngược lại, các vụ việc liên quan đến đòi lại đất cũ, tranh chấp thừa kế phức tạp thường dẫn đến biên bản hòa giải không thành. Tỷ lệ thất bại tương đối cao cho thấy sự phức tạp của các quan hệ đất đai và những hạn chế trong cơ chế hòa giải hiện tại, đòi hỏi phải có những cải tiến mạnh mẽ hơn để nâng cao hiệu quả.

4.2. Số lượng vụ việc khởi kiện ra tòa án sau hòa giải không thành

Sau khi hòa giải không thành tại UBND cấp xã, các bên có quyền khởi kiện ra tòa án hoặc đề nghị cơ quan hành chính giải quyết. Bảng 3.6 trong luận văn cho thấy số lượng vụ việc được Tòa án Nhân dân thị xã Quảng Trị thụ lý giải quyết trong cùng giai đoạn cũng ở mức đáng kể. Điều này minh chứng rằng, hòa giải ở cơ sở dù là thủ tục bắt buộc nhưng vẫn chưa phải là "bộ lọc" hiệu quả tuyệt đối. Việc các vụ án được đưa ra Tòa án không chỉ làm tăng gánh nặng cho hệ thống tư pháp mà còn gây tốn kém về thời gian và tiền bạc cho các đương sự. Phân tích các loại vụ việc thường phải đưa ra Tòa án sẽ giúp xác định những dạng tranh chấp nào cần có sự can thiệp chuyên sâu hơn ngay từ giai đoạn hòa giải tại cơ sở.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã quảng trị tỉnh quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hòa giải là biểu hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Về bản chất hòa giải nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm; tăng cƣờng tình đoàn kết, tƣơng thân, tƣơng ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng; kịp thời giải quyết những xích mích, mâu thuẫn ở cơ sở; ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm bớt vụ việc phải đƣa lên Tòa án nhân dân hoặc UBND các cấp giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nƣớc và nhân dân. Với ý nghĩa cao đẹp và vai trò quan trọng nên công tác hòa giải luôn đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và xã hội quan tâm động viên, khuyến khích, nhân dân đồng tình ủng hộ.

Sự ghi nhận tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992: “ Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” và đƣợc khẳng định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài" là minh chứng cho sự tồn tại và phát triển tất yếu của công tác hòa giải nói chung và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng. Thể chế hóa quy định trên của Hiến pháp trong thời gian qua Quốc hội đã ban hành Luật Hòa giải cơ sở và Luật Đất đai năm 2013 đây là hai văn bản nền tảng quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay. Tuy nhiên, hòa giải tranh chấp đất đai vẫn quy định còn chung chung, nhiều khi áp dụng chỉ mang tính hình thức và chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế đặt ra. Chúng ta có thể thấy một số bất cập nhƣ sau: Thứ nhất, quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay còn nhiều hạn chế nhất định cần phải tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với thực tế nhƣ: trình tự, thủ tục, thành phần tham gia hòa giải ở cơ sở, ở UBND cấp xã, hiệu lực thi hành các văn bản công nhận hòa giải thành.

Thứ hai, tranh chấp nào đƣợc thụ lý tại tòa án mà không qua hòa giải ở cơ sở. Luật Đất đai năm 2013 chƣa có văn bản nào hƣớng dẫn cụ thể dạng tranh chấp đất đai nào phải qua hòa giải ở địa phƣơng nên mỗi địa phƣơng, tòa án áp dụng rất khác nhau. 1 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 Thứ ba, theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì UBND cấp xã, phƣờng phải phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác để tiến hành hòa giải. Trong thực tế, do quy định của pháp luật chƣa rõ ràng, bắt buộc phải là tổ chức xã hội nào nhƣ Đoàn thanh niên; Hội phụ nữ… nên nhiều trƣờng hợp thành phần tham gia hòa giải ở cấp xã không đúng.

Do đó, khi các bên tranh chấp hòa giải không thành và tiến hành khởi kiện theo trình tự tố tụng dân sự thì bị tòa án từ chối thụ lý và yêu cầu về địa phƣơng tổ chức hòa giải lại vì lý do thành phần tham gia hòa giải tại địa phƣơng không đúng. Thứ tƣ, đối với các trƣờng hợp hoà giải thành ở cơ sở, cấp xã (tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất, hợp đồng tặng cho, thừa kế nhà đất.), pháp luật không quy định cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên, trình tự công nhận, hiệu lực bắt buộc các bên thực hiện biên bản hoà giải thành đó. Có quan điểm cho rằng do pháp luật không quy định cụ thể những trƣờng hợp này do đó nếu một hay cả hai bên thay đổi ý kiến thì coi nhƣ việc hoà giải không thành và UBND cấp xã không phải hoà giải lại và việc tranh chấp thuộc thẩm quyền của Toà án, khi đƣơng sự khởi kiện, Toà án xem xét theo thủ tục chung. Nhƣ vậy, do pháp luật không quy định nên làm mất giá trị pháp lý của biên bản hoà giải thành và vai trò của công tác hoà giải ở cơ sở, UBND xã, phƣờng.

Thứ năm, hiện nay công tác hòa giải ở địa phƣơng, ở các cấp chính quyền chƣa thực sự đƣợc coi trọng và áp dụng triệt để còn mang tính hình thức. Một trong những nguyên nhân là do chúng ta chƣa có cơ chế chính sách và đội ngũ hòa giải viên chuyên nghiệp. Trong những năm qua, công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội tại địa phƣơng. Tuy nhiên, việc hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị có lúc, có nơi còn chƣa kịp thời, còn bộc lộ những hạn chế nhất định.

Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết đất đai thông qua hòa giải, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Xuất phát từ thực tế đó và đƣợc sự đồng ý của giáo viên hƣớng dẫn, tôi chọn nghiên cứu đề tài "Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị”. làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. 2 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 2.

MỤC ĐÍCH/MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2. Mục đích chung Đánh giá đƣợc thực trạng công tác hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Trị. Qua đó đƣa ra ý kiến và đề xuất để nâng cao hiệu quả hòa giải tranh chấp đất đai trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Phân tích, đánh giá thực trạng hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Trị để chỉ rõ những ƣu điểm cần phát huy và những vƣớng mắc, hạn chế phải khắc phục.

- Từ việc phân tích, đánh giá nói trên, qua đó đƣa ra ý kiến và đề xuất để nâng cao hiệu quả hòa giải tranh chấp đất đai trong thời gian tới. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai tại các phƣờng, xã hiện nay tại thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Ý nghĩa thực tiễn - Với những quan điểm và giải pháp đƣợc đề xuất trong luận văn có khả năng ứng dụng trong quá trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị thời gian tới.

- Làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản lý tại thị xã Quảng Trị nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung. 3 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Hòa giải đi vào cuộc sống của nhân dân ta từ bao đời nay bởi ngƣời Việt Nam luôn coi trọng tình làng, nghĩa xóm.

Hoà giải không chỉ đơn thuần góp phần củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cƣờng tình đoàn kết trong cộng đồng dân cƣ, hạn chế các tranh chấp dân sự và phòng ngừa tội phạm, mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Nguyễn Thị Tú (2006), “Hoà giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hoà giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự” [37]. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm nhiều khái niệm cấu thành nhƣ: Tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.1 Quan niệm về tranh chấp đất đai Tranh chấp, theo từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung đƣợc hiểu là việc “ Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”[29, tr 989].

Theo đó đƣợc hiểu tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi có bất đồng, thƣờng là trong vấn đề lợi ích, quyền lợi giữa hai hoặc nhiều bên với nhau. Dƣới góc độ pháp lý, tranh chấp đƣợc hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhƣ tranh chấp dân sự, tranh chấp thƣơng mại, tranh chấp lao động. Tranh chấp đất đai có quan điểm cho rằng “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham ra quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất [30], hay quan điểm cho rằng: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”[4]. Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp 4 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 về quyền, nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.

Từ khái niệm này cho ta thấy tranh chấp đất đai ở đây là tranh chấp về “quyền, nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất”. Trƣớc hết khi nghiên cứu về quyền của ngƣời sử dụng đất có vấn đề đặt ra là tại sao không phải là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai? mà lại chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các chủ thể. Phải chăng quyền sử dụng đất có đầy đủ quyền năng nhƣ quyền sở hữu tài sản khác theo quy định tại Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền sở hữu tài sản vì đất đai là một hàng hóa có giá trị đặc biệt. Theo quy định tại Điều 164 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì: "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ