Khóa luận: Thực trạng điều trị tăng huyết áp tại BV Việt Nam - Cu Ba

Khóa luận Dược sĩ phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp ngoại trú, đánh giá hiệu quả phác đồ và sự tuân thủ của người bệnh.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

110
9
4

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Trạng Dùng Thuốc Điều Trị Tăng Huyết Áp Ngoại Trú

Tăng huyết áp là một trong những bệnh không lây nhiễm gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, thực trạng dùng thuốc điều trị tăng huyết áp ngoại trú cho thấy những thách thức đáng kể trong việc kiểm soát bệnh. Nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba đã phân tích chi tiết cách sử dụng thuốc của bệnh nhân ngoài viện. Kết quả cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp còn thấp, với nhiều bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị. Các yếu tố như lựa chọn thuốc không phù hợp, tuân thủ điều trị kémbệnh đồng mắc đóng vai trò quan trọng. Việc hiểu rõ thực trạng sử dụng thuốc giúp cải thiện chiến lược điều trị và nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp cho bệnh nhân ngoại trú.

1.1. Khái Niệm Và Tầm Quan Trọng

Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc là phương pháp chính để kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân ngoại trú. Thực trạng dùng thuốc phản ánh mức độ tuân thủ, hiệu quả và an toàn của phác đồ điều trị. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích lựa chọn thuốc, liều lượngtuân thủ điều trị tại bệnh viện.

1.2. Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu

Việc phân tích thực trạng sử dụng thuốc giúp xác định những tồn tại trong quản lý điều trị tăng huyết áp ngoài viện. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học để cải thiện chất lượng chăm sóc và tăng tỷ lệ kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân.

II. Đặc Điểm Sử Dụng Thuốc Và Lựa Chọn Phác Đồ Điều Trị

Nghiên cứu thực trạng dùng thuốc điều trị tăng huyết áp tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba đã ghi nhận nhiều đặc điểm nổi bật. Hầu hết bệnh nhân sử dụng phác đồ đơn trị liệu hoặc kết hợp nhiều loại thuốc. Các thuốc phổ biến gồm ức chế ACE, chẹn beta, chẹn calcilợi tiểu. Tuy nhiên, lựa chọn thuốc không phải lúc nào cũng phù hợp với tình trạng bệnh đồng mắc của bệnh nhân. Nhiều phác đồ điều trị cần được điều chỉnh để đạt mục tiêu huyết áp. Hiểu rõ đặc điểm lựa chọn thuốc giúp tối ưu hóa hiệu quả kiểm soát huyết ápgiảm biến chứng tim mạch.

2.1. Tỷ Lệ Sử Dụng Các Nhóm Thuốc

Thuốc huyết áp được sử dụng với tần suất khác nhau. Ức chế ACE là lựa chọn phổ biến nhất do hiệu quả tốttính an toàn cao. Chẹn calci cũng được kê đơn rộng rãi, đặc biệt ở bệnh nhân có bệnh mạch vành. Tỷ lệ sử dụng mỗi nhóm thuốc phản ánh xu hướng điều trị tại bệnh viện.

2.2. Sự Phù Hợp Với Bệnh Đồng Mắc

Lựa chọn thuốc cần xem xét bệnh đồng mắc như đái tháo đường, suy thận hay bệnh mạch vành. Ức chế ACE lợi ích cho bệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên, tính phù hợp của lựa chọn thuốc trong nhóm có bệnh đồng mắc vẫn cần cải thiện.

III. Tuân Thủ Điều Trị Và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng

Tuân thủ điều trị là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả kiểm soát huyết áp của bệnh nhân ngoại trú. Nghiên cứu sử dụng Bộ câu hỏi MARS-5 để đánh giá tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân. Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ còn hạn chế, với nhiều bệnh nhân không uống thuốc đầy đủ. Các yếu tố như quên uống thuốc, đắt đỏ, tác dụng phụthiếu hiểu biết ảnh hưởng lớn tới tuân thủ điều trị. Tuân thủ tái khám cũng không cao, dẫn tới kiểm soát huyết áp không tối ưu. Cải thiện tuân thủ điều trị là chiều hướng quan trọng để nâng cao hiệu quả chắm sóc bệnh nhân.

3.1. Mức Độ Tuân Thủ Dùng Thuốc

Tuân thủ dùng thuốc được đánh giá qua MARS-5 cho thấy tỷ lệ tuân thủ tốt chưa đạt yêu cầu. Nhiều bệnh nhân thỉnh thoảng quên hoặc cố ý không uống thuốc. Tỷ lệ tuân thủ thấp là nguyên nhân chính dẫn tới kiểm soát huyết áp kém.

3.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Tuân Thủ

Yếu tố xã hội kinh tế, tác dụng phụ, số lượng liều dùng mỗi ngày ảnh hưởng tuân thủ điều trị. Giáo dục sức khỏetư vấn dược sĩ giúp cải thiện tuân thủđạt mục tiêu huyết áp tốt hơn.

IV. Hiệu Quả Kiểm Soát Huyết Áp Và Hướng Cải Thiện

Hiệu quả kiểm soát huyết áp của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba vẫn còn thấp. Nghiên cứu đánh giá thời gian huyết áp tâm thu nằm trong mục tiêu điều trị (TTR) thông qua theo dõi định kỳ. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu huyết áp chưa tới 50%. Mối liên quan giữa tuân thủ điều trịhiệu quả kiểm soát huyết áp rõ ràng - bệnh nhân tuân thủ tốt thường có kết quả kiểm soát huyết áp tốt hơn. Tính tiếp nối điều trị cũng ảnh hưởng tới hiệu quả. Để cải thiện kiểm soát huyết áp, cần nâng cao tuân thủ, điều chỉnh phác đồ phù hợptăng cường tư vấn dược lâm sàng.

4.1. Đánh Giá Hiệu Quả Kiểm Soát Huyết Áp

Thời gian huyết áp nằm trong mục tiêu (TTR) được tính toán dựa trên đo huyết áp định kỳ tại các thời điểm khảo sát. Tỷ lệ TTR thấp cho thấy hiệu quả kiểm soát chưa đạt yêu cầu. Phân tích yếu tố liên quan giúp xác định nguyên nhân chính dẫn tới kiểm soát huyết áp kém.

4.2. Hướng Cải Thiện Hiệu Quả Điều Trị

Cải thiện kiểm soát huyết áp cần tăng cường giáo dục bệnh nhân, nâng cao tuân thủtối ưu hóa phác đồ điều trị. Theo dõi định kỳtư vấn dược lâm sàng giúp điều chỉnh thuốc kịp thờiđạt mục tiêu huyết áp tốt hơn.

28/12/2025
Lê thị thúy hằng phân tích thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện hữu nghị việt nam cu ba khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người và nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 1,28 tỷ người trưởng thành trên thế giới mắc tăng huyết áp, trong đó gần hai phần ba sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim và tử vong sớm. Không chỉ vậy, tăng huyết áp còn gây ra gánh nặng kinh tế lớn đối với hệ thống y tế, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Tại Việt Nam, có khoảng 12 triệu người mắc tăng huyết áp, cứ 5 người trưởng thành có 1 người tăng huyết áp. Tuy nhiên vẫn còn tỷ lệ tương đối cao bệnh nhân chưa được phát hiện bệnh hoặc đã phát hiện nhưng chưa kiểm soát được bệnh [1]. Tình trạng này đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống y tế, đặc biệt trong bối cảnh nhận thức về bệnh, sự tuân thủ điều trị và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế vẫn còn hạn chế tại nhiều khu vực. Điều trị tăng huyết áp yêu cầu lâu dài, bao gồm kết hợp giữa các phương pháp không dùng thuốc (chế độ ăn uống, lối sống) và điều trị bằng thuốc.

Việc tối ưu hoá kê đơn – bao gồm lựa chọn thuốc theo khuyến cáo, cân nhắc cá thể hoá dựa trên đặc điểm của bệnh nhân giúp giảm thiểu tác dụng phụ, tăng hiệu quả điều trị và tiết kiệm chi phí y tế. Đồng thời, sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân, như duy trì uống thuốc đúng liều, đúng giờ và thay đổi lối sống phù hợp, cũng quyết định hiệu quả điều trị dài hạn [2]. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến thuốc đã được ghi nhận. Theo một nghiên cứu tại Việt Nam trên 381 bệnh nhân tăng huyết áp cho thấy có 820 vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) được xác định với trung bình 2,15 DRP trên mỗi bệnh nhân [3], [4], [5].

Bên cạnh đó, không tuân thủ dùng thuốc đã được báo cáo với tỷ lệ dao động khoảng 30% - 50% [6]. Điều này có thể là những yếu tố quan trọng dẫn đến khả năng kiểm soát mục tiêu kiểm soát huyết áp không tối ưu, tăng nguy cơ gặp các biến chứng và ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba là bệnh viện đa khoa hạng II, hiện đang quản lý số lượng lớn bệnh nhân ngoại trú mắc tăng huyết áp. Đây là các bệnh nhân thường có nhiều bệnh mạn tính mắc kèm, được chỉ định nhiều loại thuốc và hiện tại các hoạt động nâng cao tư vấn tuân thủ dùng thuốc cho bệnh nhân tại viện còn khá hạn chế.

Vì vậy, nhằm hỗ trợ thực hành lâm sàng, nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị cho nhóm bệnh nhân này, nhóm nghiên cứu triển khai đề tài "Phân tích thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba" với ba mục tiêu: 1. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam-Cu Ba 1 2. Phân tích tính tuân thủ thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam-Cu Ba 3. Phân tích một số yếu tố liên quan hiệu quả kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam-Cu Ba Chúng tôi hi vọng kết quả của nghiên cứu này có thể cung cấp góc nhìn có tính hệ thống về tình hình kê đơn thuốc điều trị tăng huyết áp, giúp phát hiện những khoảng trống trong thực hành lâm sàng, đồng thời ghi nhận được thực trạng tuân thủ dùng thuốc của người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện và một số yếu tố liên quan đến hiệu quả kiểm soát huyết áp.

Từ đó có căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả điều trị và làm cơ sở cho việc đề xuất hoạt động dược lâm sàng phù hợp trong quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện. Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa Tăng huyết áp được định nghĩa khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg. Định nghĩa này được áp dụng cho người trưởng thành (≥18 tuổi) [7], [8].

Dịch tễ Tăng huyết áp là gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng trên toàn cầu, gây ra hơn 10 triệu ca tử vong mỗi năm [9]. Là nguyên nhân chính gây tử vong sớm trên toàn thế giới (WHO). Tăng huyết áp không chỉ là gánh nặng đối với các nước phát triển mà còn đối với các nước đang phát triển. Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nơi có tỷ lệ mắc tăng huyết áp cao [9].

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 1,28 tỷ người trưởng thành trong độ tuổi 30 – 79 trên toàn cầu mắc tăng huyết áp. Ước tính 46% người lớn mắc tăng huyết áp nhưng không biết mình mắc bệnh lý này. Ít hơn một nửa số người lớn (42%) mắc tăng huyết áp được chẩn đoán và điều trị. Ước tính cứ 5 người trưởng thành mắc tăng huyết áp thì có 1 người huyết áp được kiểm soát.

Nghiên cứu MEDLINE của Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ/Học viện tim mạch Hoa kỳ công bố kết quả năm 2010, 31,1% người trưởng thành trên thế giới mắc tăng huyết áp trong đó 28,5% ở các nước thu nhập cao, 31,5% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, ước tính khoảng 1,39 tỷ người bị tăng huyết áp trong năm 2010 [10]. Tại Canada, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành là 22,6% và tỷ lệ bệnh được kiểm soát là 68,1% trong giai đoạn 2012 – 2013, tỷ lệ tăng huyết áp tự báo cáo đã tăng khoảng 2 lần trong gần 2 thập kỷ. Tỷ lệ tử vong theo độ tuổi ở bệnh nhân tăng huyết áp đang giảm (từ 9,4 xuống 7,9 ca tử vong/1000 bệnh nhân), nhưng ở mức độ thấp hơn so với những người không tăng huyết áp [11]. Tại Pháp đã tiến hành nghiên cứu ESTEBAN trong một quần thể đại diện của người trưởng thành Pháp ở độ tuổi từ 18 – 74 từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 3 năm 2016.

Kết quả của nghiên cứu ESTEBAN cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp là 31,3%, trong đó tỷ lệ tăng huyết áp ở nam cao hơn đáng kể so với nữ (38,9% so với 25,8%, p< 0.001), tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi, đạt 68,8% dân số 65 – 74 tuổi [12]. Tại Việt Nam, một cuộc điều tra dịch tễ học quốc gia (2001 – 2008) tiến hành trên 9832 người ≥ 25 tuổi cho kết quả 25,1% dân số mắc tăng huyết áp, gần một nửa trong số họ không biết mình mắc bệnh. Gần đây, chương trình The May Measurement năm 2017 và 2018 của Hội tim mạch học Châu Âu đã được Hội tim mạch học Việt Nam/Phân hội tăng huyết áp Việt Nam hưởng ứng và triển khai trên toàn quốc. Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2019 đã sàng lọc gần 26000 người trong 10 tỉnh, thành phố cho kết quả 3 33,8% người bị tăng huyết áp.

Tăng huyết áp chưa được chẩn đoán và không kiểm soát được ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề sức khỏe đáng kể [9]. Chẩn đoán tăng huyết áp Theo khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Phân hội Tăng huyết áp Hội tim mạch học Việt Nam (VSH/VNHA) năm 2022, chẩn đoán tăng huyết áp dựa vào đo huyết áp chính xác bằng đo huyết áp tại phòng khám, huyết áp tại nhà hoặc huyết áp liên tục; kết hợp khai thác tiền sử, khám lâm sàng và cận lâm sàng, bằng chứng tổn thương cơ quan đích hoặc bệnh tim mạch [7]. Sơ đồ chẩn đoán tăng huyết áp [7] Chú thích:*HAPK với tiêu chuẩn thiết yếu và HATN hoặc HALT với tiêu chuẩn tối ưu.**Huyết áp bình thường nếu HAPK < 130/85 mmHg; THA áo choàng trắng nếu HAPK ≥ 140/90 mmHg và HATN < 135/85 mmHg hoặc HA ban ngày < 135/85 mmHg và HALT 24h <130/80 mmHg. ***THA ẩn giấu nếu HAPK < 140/90 mmHg và HATN ≥ 135/85 mmHg hoặc HALT 24 giờ ≥ 130/80 mmHg hoặc HA buổi sáng ≥ 135/85 mmHg; THA nếu HAPK ≥ 140/90 mmHg hoặc HATN ≥ 135/85 mmHg hoặc HALT 24 giờ trung bình ≥ 130/80 mmHg hoặc HA ban ngày trung bình ≥ 135/85 mmHg [7] Để có thể chẩn đoán tăng huyết áp chính xác cần có chỉ số huyết áp chuẩn.

Đồng thuận của một số chuyên gia của Phân hội Tăng huyết áp VSH/VNHA 2024 đã đưa ra chiến lược 5Đ trong quản lý toàn diện tăng huyết áp, trong đó việc đo huyết áp chuẩn là một trong 5Đ của chiến lược. Theo đồng thuận mới này, việc đo huyết áp cần được thực hiện đúng quy trình gồm cả ở môi trường lâm sàng (HAPK), đo huyết áp tại nhà hoặc đo huyết áp lưu động; bên cạnh đó có sự cập nhật trong phân độ các mức huyết áp dưới ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp nên tiêu chuẩn chẩn đoán tiền tăng huyết áp dựa trên huyết áp phòng khám, huyết áp tại nhà hoặc huyết áp lưu động cũng có thay đổi. Phân độ tăng huyết áp Theo khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của VSH/VNHA 2022, có nhiều cách phân độ tăng huyết áp theo mức huyết áp đo tại phòng khám, huyết áp tại nhà và huyết áp liên tục [7]. Theo mức huyết áp tại phòng khám, huyết áp được khuyến cáo phân theo huyết áp bình thường, huyết áp bình thường cao hoặc tăng huyết áp từ độ 1 đến độ 3.

Huyết áp bình thường khi cả huyết áp tâm thu < 130 mmHg và huyết áp tâm trương < 85 mmHg. Khi huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg nhưng <140 mmHg và hoặc huyết áp tâm trương ≥ 85 mmHg nhưng < 90 mmHg, bệnh nhân được coi là huyết áp bình thường cao. Huyết áp bình thường – cao nhằm để xác định những người có thể được điều trị bằng các biện pháp thay đổi lối sống và những người cần được điều trị bằng thuốc nếu có chỉ định. Cơn tăng huyết áp được định nghĩa là huyết áp tâm thu 180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 120 mmHg, trong tình huống đó cần đánh giá tổn thương cơ quan đích để chẩn đoán tăng huyết áp khẩn cấp hoặc cấp cứu để có hướng xử trí thích hợp [7] Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ