Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt 1. Chất lượng nguồn nước sinh hoạt Nước sạch là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp đồng thời có đủ 22 chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y Tế ban hành [4]. Theo Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 cũng chỉ rõ nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam [18].
Đối với nước hợp vệ sinh là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi [33]. Các yếu tố vật lý, hóa học và vi sinh trong nước không vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt Tùy theo yêu cầu của việc sử dụng nước vào các mục đích khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, văn hóa, thể dục thể thao, phục vụ ăn uống và sinh hoạt mà quy định những tiêu chuẩn của ngành. Đối với nước ăn uống và sinh hoạt có tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn địa phương.
Tiêu chuẩn quốc tế về nước sinh hoạt là tiêu chuẩn của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ban hành năm 1958 và bổ sung sửa đổi năm 1963, 1971, và 1984. Tiêu chuẩn bao gồm 3 nhóm chỉ tiêu: Vật lý, hóa học (chất vô cơ tan, chất hữu cơ) và sinh học. Năm 2002 với sự giúp đỡ của UNICEF, Bộ Y tế đã xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo quyết định số 1329/2002/BYT- QĐ ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế để giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt. Tiêu chuẩn này quy định ngưỡng tối đa cho phép của 112 chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học.
Đây là chìa khóa pháp lý cho cả download by : skknchat@gmail.com 4 người tiêu dùng cũng như sản xuất và cung cấp nước sạch. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng chủ yếu là đối với đô thị, công trình cấp nước tập trung cho 500 người trở lên, do vậy đối với vùng nông thôn hiện chưa phải là đối tượng áp dụng bắt buộc [1]. Để khắc phục hạn chế này, Bộ Y tế ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch theo quyết định số 09/2005/BYT-QĐ ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Tiêu chuẩn này chỉ quy định 22 chỉ tiêu cơ bản về cảm quan, thành phần vô cơ và vi sinh vật.
Tiêu chuẩn này áp dụng đối với các hình thức cấp nước sạch hộ gia đình, các trạm cấp nước sạch khác. Nước sạch quy định trong tiêu chuẩn này chỉ là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp. Nếu dùng trực tiếp cho nước ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành kèm theo quyết định số 1329/QĐ-BYT ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế [1]. Nhìn chung về mặt số lượng có thể chấp nhận được ở mức 30l/người/ngày ở nông thôn và 100-150l/người/ngày ở thành thị.
Về mặt chất lượng, nước dùng để ăn uống và sinh hoạt phải đảm bảo những yêu cầu chung sau đây: - Nước phải có tính cảm quan tốt, phải trong, không có màu, không có mùi, không có vị gì đặc biệt để gây cảm giác khó chịu cho người sử dụng. - Nước phải có thành phần hóa học không độc hại cho cơ thể con người, không chứa các chất độc, chất gây ung thư, chất phóng xạ… Nếu có thì phải ở mức tiêu chuẩn nồng độ giới hạn cho phép theo quy định của Nhà nước và Bộ Y tế. - Nước không chứa các loại vi khuẩn, virus gây bệnh, các loại kí sinh trùng và các loại vi sinh vật khác, đảm bảo an toàn về mặt dịch tễ học. Cụ thể như sau: download by : skknchat@gmail.
- Nước phải trong, độ trong của nước ít nhất là 30 cm. - Nước đục là do có những chất lơ lửng trong nước (đất, cát…) đối với nước bề mặt, chất sắt đối với nước ngầm. Nước đang trong mà bỗng bị đục chứng tỏ là có sự thẩm lậu của các chất bẩn hoặc do nhiễm khuẩn vào nguồn nước. - Nước hợp vệ là nước không mầu, có mầu rõ rệt khi nhìn bằng mắt thường.
- Nước hồ, ao, thường có mầu vì có lẫn chất mùn hoặc rêu, tảo. - Nước ngầm sâu thường có mầu vàng gỉ của chất sắt, khi thấy nước có mầu phải tìm xem nguyên nhân nào đã sinh ra màu đó. Nước hợp vệ là nước không mùi vị gì đặc biệt, nếu có thường là do bị nhiễm. + Do các chất khoáng như muối, sắt.
+ Do khí hoà tan như H2S, Cl2 thừa. + Do thực vật thối rữa hoặc đang bị phân huỷ. - Nước hợp vệ là nước có nhiệt độ tương đối ổn định, thường khoảng 150C. - Với nước càng sâu thì nhiệt độ càng ổn định.
Mọi sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ (nhất là đối với nguồn nước ngầm nông) có thể giúp ta nghi ngờ có sự nhiễm bẩn ở ngoài vào. Hóa học [9] - Trong nước không có chất độc. - Các hoá chất không quá tiêu chuẩn cho phép. * Về chất hữu cơ.
- Sự có mặt của chất hữu cơ chứng tỏ là mẫu nước bị nhiễm bẩn. - Chất hữu cơ là sản phẩm của sự thối nát. download by : skknchat@gmail.com 6 + Của các tổ chức động vật và thực vật. + Các chất thải bỏ (phân, nước thải xí nghiệp.
- Về nguồn gốc có 2 loại chất hữu cơ. + Chất hữu cơ thực vật. + Chất hữu cơ động vật. Chất hữu cơ động vật rất nguy hiểm, vì sự có mặt của nó còn kèm theo các vi khuẩn gây bệnh.
* Về dẫn xuất của Nitơ (amoniac, nitrit, nitrat). - Đó là những chất do quá trình vô cơ hoá của chất hữu cơ mà ra. - Tuỳ theo đậm độ cao thấp của amoniac, nitrit, nitrat mà định đó là giai đoạn đầu hay giai đoạn cuối của hiện tượng vơ cơ hoá. Từ đó có thể xác định là mẫu nước đã bị nhiễm bẩn như thế nào.
- Khi nhận định cần phải kết hợp với đậm độ của chất hữu cơ và chất clorua thì mới có thể khẳng định tính chất nhiễm bẩn của mẫu nước. - Tiêu chuẩn một số chất cho phép ở trong nước uống. + Chất hữu cơ: Tiêu chuẩn cho phép < 4mg O2/l nước. + Dẫn xuất chất đạm: NH3 < 3mg/l nước.
NO2 < 0,05mg/l nước. NO3 < 5mg/l nước. + Muối NaCl: 60 - 70 mg/l. + FluO trung bình: 0,7 mg/l.
- Trong quá trình phân giải chất hữu cơ, amoniac xuất hiện đầu tiên. - Có amoniac chứng tỏ là có chất hữu cơ bắt đầu thối rữa. - Tiêu chuẩn cho phép là từ 0 - 3 mg NH3 trong 1 lít nước. download by : skknchat@gmail.
- Sự oxy hoá của chất đạm hữu cơ biến NH3 thành NO2, quá trình này nhờ vi khuẩn hiếu khí mà tạo ra. - Tiêu chuẩn quy định trong nước không được có NO2 hoặc nếu có phải dưới 0,05 mg/lít. - NO2 còn có thể thấy trong nước mưa. Nhưng khi có cả NH3 và NO2 thì chắc chắn là nước bị nhiễm bẩn.
- Sau một thời gian, chất nitrit bị oxy hoá và trở thành nitrat. - Chất nitrat là giai đoạn cuối cùng của sự phân huỷ các chất hữu cơ chứa N. - Nếu trong nước chỉ có nitrat không có nitrit và NH3 người ta cho rằng nước đó bị nhiễm bẩn nhưng đã được vô cơ hoá. Nếu có thêm NH3 và NO2 là trong dòng nước vẫn còn chất hữu cơ.
- Nếu lượng nitrat quá nhiều trong nước có thể nguy hiểm đối với trẻ sơ sinh, vì nó gây bệnh Methemoglobin ở máu. - Tiêu chuẩn qui định cho phép lên tới 5mg nitrat trong 1lít nước. - Khi thấy nước có nhiều NaCl chứng tỏ là nước bị nhiễm bẩn, do dịch thể động vật, nhiễm nước tiểu và phân mang lại. - Nhưng nếu ta thấy số lượng muối tăng cùng với số lượng NH3 và NO2 thì nước đã bị nhiễm bẩn và nguy hiểm.
- Chất NaCl tiêu chuẩn cho phép là 60 - 70 mg NaCl/1lít nước. - Sắt có thể thấy ở trạng thái. + Hoà tan Fe++ (Fe(HCO3)). + Không hoà tan Fe+++ (Fe2O3).
- Tiêu chuẩn cho phép là không quá 0.3mg Fe++/1lít nước. download by : skknchat@gmail. - Nước cứng là nước có nhiều muối Ca, Mg khác với nước mềm là nước có ít loại muối này. - Tiêu chuẩn độ cứng ở nước ta được phân loại như sau.
+ Nước tốt: 4 - 80 độ cứng. (độ Đức) + Nước cứng vừa: 8 - 120 độ cứng. (độ Đức) + Nước khá cứng: 12 - 180 độ cứng. (độ Đức) là nước cứng và rất cứng.
1 độ Đức = 10mg CaO/lít = 7. Sinh học [9] * Khái niệm vi khuẩn trong nước. - Nước dùng hàng ngày có thể bị nhiễm khuẩn. Vi khuẩn sinh bệnh sống trong nước một thời gian nếu gặp điều kiện thuận lợi có thể gây bệnh cho một người, một nhóm người hoặc thành dịch, bởi vì nhiều người cùng dùng chung một nguồn nước.
- Trong nước ứ đọng và nước lạnh, vi khuẩn sống dễ dàng hơn trong nước chảy và nước nóng. Nước giếng bị nhiễm bẩn là do ô nhiễm đất vì nước thải, vì gần hố xí không hợp vệ sinh. Nếu nước bị nhiễm phân thì có thể nguy hiểm, vì trong số người khoẻ cũng có thể có người mang vi khuẩn. Nguời ta tìm những vi khuẩn sau đây để làm chỉ số cho sự nhiễm phân của nước: + Vi khuẩn Escherichia Coli.
+ Vi khuẩn yếm khí có nha bào. + Thực khuẩn thể. Đặc biệt trong nguồn nước sinh hoạt cần phải kể đến đó là vi khuẩn Coliform và Fecal Coliform: Coliform là trực khuẩn Gram âm hiếu khí, kỵ khí tùy tiện không có nha bào, có khả năng lên men đường lactose sinh acid, sinh hơi ở nhiệt độ 35 - 370C trong vòng 48 giờ, chúng được tìm thấy ở phân người, động vật và cả trong môi trường như đất, nước, rau quả…chúng được download by : skknchat@gmail.com 9 coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước đã được xử lý. Fecal Coliform là những coliform chịu nhiệt, phát triển được ở nhiệt độ 44,50C, chúng có ở phân người và động vật máu nóng.
Vì vậy Fecal Coliform được coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước không được xử lý. Sự có mặt của vi khuẩn này ở ngoại cảnh chứng tỏ đã có sự ô nhiễm phân người và động vật máu nóng [5].