CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về chế tài thương mại trong hoạt động thương mại 1. Khái niệm về chế tài thương mại trong hoạt động thương mại Chế tài thương mại trong hoạt động thương mại là một hình thức chế tài được phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, tuy nhiên, pháp luật các nước đều không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào chế tài thương mại. LTM 2005 sử dụng thuật ngữ “chế tài trong thương mại” ở phần đề mục của Chương VII nhưng cũng không giải thích nghĩa.
Vậy để hiểu khái niệm chế tài thương mại trong hoạt động thương mại thì cần thiết làm rõ khái niệm chế tài nói chung. Theo khái niệm pháp lý ở Việt Nam, chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật quy định các biện pháp cưỡng chế mang tính chất trừng phạt mà nhà nước dự kiến có thể áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những mệnh lệnh đã được nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật1. Đối với các nước trên thế giới, chế tài cũng được định nghĩa tương tư. Theo Từ điển pháp lí Black của Hoa Kỳ, chế tài là hình phạt hoặc các biện pháp thực thi khác được sử dụng để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hoặc các quy tắc, quy định2.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư luật học của Liên ang Nga thuật ngữ chế tài được hiểu theo hai nghĩa: (i) Theo nghĩa rộng, chế tài là hình thức cưỡng chế nhà nước đối với việc không thực hiện các quy phạm pháp luật, phản ứng của quyền lực nhà nước trước các hành vi vi phạm pháp luật, 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật, Nxb.322 2 Black, Henry Campbell (1990), Black’s Law Dictionary, 6th ed, st.ISBN 0- 314-76271-X 6 7 sự đánh giá tiêu cực của nhà nước các hành vi ứng xử trái pháp luật; (ii) Theo nghĩa hẹp, chế tài là bộ phận cấu thành của quy phạm pháp luật (cùng với giả định và quy định), trong đó quy định các hậu quả pháp lí do nhà nước đặt ra về tài sản, tâm lí và các hậu quả khác đối với các hành vi ứng xử trái pháp luật, hậu quả không mong muốn đối với những người vi phạm quy định của quy phạm pháp luật3. Các hình thức chế tài đa dạng bao gồm chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự.Trong đó, chế tài thương mại là một dạng chế tài dân sự theo nghĩa rộng, nên về cơ bản nó sẽ có nét tương đồng của chế tài nói chung và chế tài dân sự nói riêng. Hiểu theo nghĩa rộng, chế tài thương mại là chế tài áp dụng đối với những vi phạm các quy định phát sinh từ hoạt động thương mại. Tuy nhiên, xét về hình thức chế tài thương mại trong quy định tại Điều 292 LTM năm 2005 thì chế tài trong hoạt động thương mại là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại, xác định những hậu quả pháp lí bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng.
Như vậy, căn cứ vào bản chất của chế tài và cách tiếp cận theo LTM năm 2005 thì chế tài thương mại trong hoạt động thương mại là các biện pháp được áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thương mại mà các bên đã thỏa thuận với nhau, theo đó, bên có hành vi vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra. Đặc điểm của chế tài thương mại trong hoạt động thương mại 1. Căn cứ phát sinh chế tài thương mại Thứ nhất, về mặt khách thể: Chế tài thương mại bảo vệ cho sự xâm phạm đến quan hệ pháp luật thương mại mà pháp luật bảo vệ. Quan hệ pháp luật thương mại là quan hệ thương mại được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, trong đó 3 Tikhômicrôva L.845 (bản tiếng Nga) 7 8 các bên tham gia vào quan hệ thương mại sẽ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể.
Vì vậy, sự xâm pháp đến quan hệ pháp luật thương mại là sự xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ thương mại, cụ thể đối với chế tài thương mại là quan hệ hợp đồng. Thứ hai, về mặt khách quan: Mặt khách quan của chế tài thương mại là tổng hợp tất cả những biểu hiện diễn ra và tổn tại bên ngoài yếu tố khách quan bao gồm: có hành vi vi phạm, có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra, và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế. Một là, hành vi vi phạm bao gồm các hành Commented [1]: Lỗi chính tả, hành văn vi thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Đây là căn cứ cần được đưa ra chứng minh trong việc áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài.
Hai là, đối với thiệt hại vật chất thực tế xảy ra được hiểu là thiệt hại về Formatted: Font: (Default) Times New Roman, Not Italic, Vietnamese tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Căn cứ này bắt buộc phải được viện dẫn khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Ba là, đối với có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế. Bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chỉ phải bồi thường khi những Formatted: Font: (Default) Times New Roman, Vietnamese, Highlight thiệt hại xảy ra có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của họ.
Hay nói cách khác bên có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng. Thứ ba, về chủ thể: Chế tài thương mại phát sinh giữa các chủ thể tham gia hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Các chủ thể tham gia hợp đồng trong lĩnh 8 9 vực thương mại chủ là thương nhân4. Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong những trường hợp pháp luật quy định cụ thể.
Ví Formatted: Font: Italic dụ, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM5 hay ví dụ khác: Trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hoá, bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân6. Thứ tư, về mặt chủ quan: Lỗi của bên vi phạm, đây là căn cứ bắt buộc phải có để áp dụng đối với tất cả các loại chế tài. Theo khoa học pháp lý, lỗi biểu thị thái độ tâm lý của con người đối với hành vi vi phạm và hậu quả do hành vi đó gây ra. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra khi có lỗi.
Xuất phát từ đặc thù về chủ thể, lỗi trong quan hệ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại là lỗi suy đoán. Tính suy đoán thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi. Để áp dụng chế tài thương mại, chỉ cần chứng minh việc có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã xảy ra hành vi đó. Hai là, lỗi của thương nhân được suy đoán từ lỗi của người đại diện hợp pháp của thương nhân và những người đang hành động với danh nghĩa của thương nhân phù hợp với nhiệm vụ được phân công của họ.
Với tích chất suy đoán này, pháp luật không quy định lỗi là căn cứ áp dụng chế tài thương mại. Do đó, cơ quan tài phán không có nghĩa vụ chứng minh yếu tố lỗi khi quyết định áp dụng chế tài. Tuy nhiên, bên có hành vi vi phạm cũng sẽ 4 Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thưomg mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” (khoản 1 Điều 6 LTM 2005). 5 Khoản 3 Điều 1 LTM 2005 6 Điều 157 LTM 2005 9 10 không phải chịu trách nhiệm hợp đồng nếu không có lỗi.
Bằng việc chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm, bên vi phạm hợp đồng tự chứng minh mình không có lỗi và không áp dụng chế tài thương mại. Tính chất của chế tài thương mại Thứ nhất, tính chất thực hiện tiếp tục nghĩa vụ: Các chế tài thương mại như buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng được áp dụng không nhằm mục đích chấm dứt nghĩa vụ của các bên mà để các bên thực hiện tiếp tục các nghĩa vụ: tìm, thực hiện các biện pháp để thực hiện hợp đồng hoặc loại trừ và xử lý được nguyên nhân khiến hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện. Thứ hai, tính chất tài sản: Yếu tố tài sản thể hiện ở bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi bao gồm: (i) Bên vi phạm phải dùng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để khắc phụ các hậu quả khi không thực hiện nghĩa vụ hoặc sẽ phải nộp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại tùy theo sự thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật; (ii) Bên vi phạm buộc phải có những chi phí hợp lý để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi bên bị vi phạm áp dụng biện pháp xử lý vi phạm buộc thực hiện hợp đồng. Việc áp dụng các biện pháp chế tài sẽ ảnh hưởng đến lợi ích vật chất của các bên.
Theo đó, các bên sẽ phải bù ra một khoản chi phí để bù đắp việc hợp đồng không thể thực hiện được. Bản chất của chế tài thương mại cũng mang tính chất răn đe, tuy nhiên sự răn đe được đánh trọng tâm vào tài sản của chủ thể vi phạm. Thủ tục áp dụng chế tài thương mại Chế tài thương mại cũng mang tính mềm dẻo, linh hoạt và tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp chế tài nào cũng cần nằm trong khuôn khổ của pháp luật đã quy định.