Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng về việc áp dụng chế tài thương mại trong hoạt động thương mại tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết (chuyên ngành Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2022) được triển khai trên nền tảng bối cảnh thực tiễn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới. Nhằm duy trì trật tự kinh doanh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao thương, Nhà nước đã thiết lập hệ thống công cụ pháp lý điều chỉnh quan hệ thương mại, trong đó chế tài thương mại giữ vai trò nòng cốt. Dù Luật Thương mại năm 2005 đã có nhiều điểm bổ sung, hoàn thiện đáng kể so với Luật Thương mại năm 1997, tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cùng sự đa dạng, phức tạp của các giao dịch kinh tế đã làm gia tăng các hành vi vi phạm hợp đồng, bộc lộ nhiều điểm bất cập trong các quy định thực định.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá thực trạng áp dụng chế tài thương mại trong hoạt động thương mại tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, làm rõ bản chất pháp lý, ý nghĩa của chế tài thương mại, cấu trúc pháp luật về chế tài thương mại và quá trình hình thành, phát triển các quy định về chế tài thương mại tại Việt Nam.
  2. Nghiên cứu thực trạng áp dụng chế tài thương mại trong hoạt động thương mại tại Việt Nam.
  3. Từ việc nghiên cứu trên, đưa ra những đề xuất, kiến nghị cụ thể về việc hoàn thiện quy định pháp luật về chế tài thương mại để đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là hệ thống quy định pháp luật về chế tài thương mại và thực tiễn áp dụng các chế tài này trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định tại Luật Thương mại năm 2005, đặt trong mối quan hệ đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Xây dựng năm 2014, đồng thời so sánh với các điều ước quốc tế (tiêu biểu là Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế - CISG, Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế) và pháp luật của một số quốc gia (Cộng hòa Liên bang Đức, hệ thống Thông luật Anh - Mỹ). Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát từ giai đoạn cơ chế kế hoạch hóa tập trung, giai đoạn từ khi ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đến năm 2006, và từ năm 2006 (thời điểm Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực) cho đến năm 2022.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý về chế tài trong nước và quốc tế. Về mặt lý luận chung, tác giả tiếp cận khái niệm chế tài từ Giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội (chế tài là bộ phận quy phạm quy định biện pháp cưỡng chế mang tính chất trừng phạt dự kiến áp dụng đối với chủ thể vi phạm), đối chiếu với Từ điển pháp lý Black (Black's Law Dictionary, Hoa Kỳ) và Từ điển bách khoa toàn thư luật học của Liên bang Nga (tiếp cận theo nghĩa rộng là phản ứng quyền lực nhà nước và nghĩa hẹp là bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật). Dưới góc độ Luật Thương mại năm 2005, chế tài thương mại được xác định là các biện pháp áp dụng đối với chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết hợp đồng, buộc bên vi phạm gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi.

Căn cứ phát sinh chế tài thương mại được phân tích qua bốn yếu tố cấu thành:

  • Khách thể: Quan hệ pháp luật thương mại theo hợp đồng được pháp luật bảo vệ.
  • Mặt khách quan: Hành vi vi phạm hợp đồng, thiệt hại vật chất thực tế, và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại thực tế phát sinh.
  • Chủ thể: Chủ yếu là thương nhân (theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005); các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân chỉ áp dụng khi đáp ứng điều kiện lựa chọn áp dụng Luật Thương mại (khoản 3 Điều 1) hoặc tham gia quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa (Điều 157).
  • Mặt chủ quan: Yếu tố lỗi được xác định dựa trên nguyên tắc lỗi suy đoán; cơ quan tài phán không có nghĩa vụ chứng minh lỗi khi áp dụng chế tài, bên vi phạm muốn thoát trách nhiệm phải tự chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm hợp pháp.

Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin cùng quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh luật học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ, điều ước quốc tế, cùng các công trình nghiên cứu tiền nhiệm như luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Hà Phương (2012), Phan Thùy Linh (2016), Tạ Thị Thanh Hằng (2019) và các bài viết chuyên khảo của Nguyễn Việt Khoa (2011), Nguyễn Thanh Tùng (2015), Vũ Thế Hoài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về chế tài thương mại trong hoạt động thương mại và pháp luật về chế tài thương mại trong hoạt động thương mại

Chương này tập trung làm rõ bản chất, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa và tiến trình lập pháp điều chỉnh chế tài thương mại tại Việt Nam. Về tính chất, chế tài thương mại mang hai đặc trưng lớn: tính chất tiếp tục thực hiện nghĩa vụ (thể hiện ở chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng nhằm tạo điều kiện cho các bên tiếp tục duy trì giao dịch) và tính chất tài sản (đánh trực tiếp vào lợi ích vật chất của bên vi phạm thông qua tiền phạt, bồi thường thiệt hại hoặc chi phí khắc phục). Về thủ tục, việc áp dụng chế tài mang tính mềm dẻo, linh hoạt, phụ thuộc hoàn toàn vào quyền tự định đoạt của bên bị vi phạm; Tòa án hoặc Trọng tài chỉ xem xét áp dụng dựa trên yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu phản tố của đương sự, không tự ý áp đặt như chế tài hành chính hay hình sự.

Tiến trình phát triển của pháp luật về chế tài thương mại tại Việt Nam được phân tích qua ba giai đoạn lịch sử:

  • Giai đoạn cơ chế tập trung bao cấp: Các quan hệ kinh tế phục vụ kế hoạch nhà nước, giải quyết tại Hội đồng Trọng tài kinh tế (thành lập theo Nghị định số 02/TTg ngày 14/11/1960). Pháp chế hợp đồng kinh tế dựa trên Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 và Nghị định số 54/CP ngày 10/03/1975, chỉ gồm hai chế tài là phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại. Mức phạt hợp đồng rất thấp, tính trên giá trị hợp đồng kinh tế và nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước, mang bản chất cưỡng chế hành chính nhằm củng cố kỷ luật kế hoạch.
  • Giai đoạn từ khi ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25/09/1989 đến năm 2006: Thừa nhận quyền tự do kinh doanh; từ ngày 01/07/1994, thẩm quyền phán quyết tranh chấp chuyển từ Trọng tài kinh tế sang Tòa án. Giai đoạn này ghi nhận bốn chế tài: Phạt hợp đồng, Bồi thường thiệt hại, Hủy hợp đồng, Đình chỉ hợp đồng. Sự ra đời của Luật Thương mại năm 1997 bổ sung các quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm, chuyển hóa chế tài sang tính chất tài sản nhưng các quy phạm còn tản mạn và thiếu tính hệ thống.
  • Giai đoạn từ năm 2006 đến nay: Đánh dấu bằng việc Quốc hội thông qua Luật Thương mại năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2005 (ngày 14/06/2005), hệ thống chế tài được mở rộng, phân định rõ các hình thức và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng.

Nguồn pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại bao gồm: hệ thống văn bản pháp luật quốc gia (Hiến pháp, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015...); điều ước quốc tế (như CISG 1980 theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng tại khoản 1 Điều 5 Luật Thương mại năm 2005), tập quán thương mại quốc tế (khoản 2 Điều 5), pháp luật nước ngoài; và hợp đồng hợp pháp do các bên xác lập.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về chế tài thương mại trong hoạt động thương mại tại Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các quy định thực định và những vướng mắc phát sinh khi áp dụng sáu nhóm chế tài thương mại quy định tại Điều 292 Luật Thương mại năm 2005:

Nhóm chế tài Điều khoản LTM 2005 Căn cứ áp dụng Đặc điểm và hạn mức pháp lý
Buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều 297, 298, 299 Có hành vi vi phạm; không bắt buộc chứng minh thiệt hại. Ưu tiên áp dụng; yêu cầu giao đủ hàng, loại trừ khuyết tật, thay thế hàng hoặc bên bị vi phạm tự khắc phục với chi phí do bên vi phạm chịu.
Phạt vi phạm Điều 300, 301, 307 Có hành vi vi phạm; có thỏa thuận phạt trong hợp đồng. Mức phạt tối đa không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (trừ trường hợp dịch vụ giám định tại Điều 266).
Buộc bồi thường thiệt hại Điều 302, 303, 304, 305, 306 Có hành vi vi phạm; có thiệt hại thực tế; có quan hệ nhân quả trực tiếp; lỗi suy đoán. Không cần thỏa thuận trước; bồi thường tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp bỏ lỡ; chỉ bồi thường thiệt hại vật chất.
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng Điều 308, 309, 315 Có thỏa thuận là điều kiện tạm ngừng, hoặc có vi phạm cơ bản; phải thông báo ngay. Hợp đồng vẫn còn hiệu lực; tạm thời dừng thực hiện nghĩa vụ cho đến khi nguyên nhân vi phạm được khắc phục.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng Điều 310, 311 Có thỏa thuận là điều kiện đình chỉ, hoặc có vi phạm cơ bản; phải thông báo ngay. Chấm dứt thực hiện hợp đồng từ thời điểm nhận thông báo; bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu thanh toán/thực hiện đối ứng.
Hủy bỏ hợp đồng Điều 312, 313, 314 Có thỏa thuận là điều kiện hủy bỏ, hoặc có vi phạm cơ bản; hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ. Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết (nếu hủy toàn bộ); các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Về chế định miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định bốn trường hợp:

  1. Trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng (điểm a khoản 1 Điều 294).
  2. Xảy ra sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 296 Luật Thương mại năm 2005 (cho phép kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ năm tháng đối với hợp đồng có thời hạn giao hàng/dịch vụ không quá mười hai tháng, hoặc tám tháng đối với hợp đồng có thời hạn trên mười hai tháng; nếu quá thời hạn, các bên được quyền từ chối thực hiện hợp đồng và thông báo trong vòng mười ngày).
  3. Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.
  4. Hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Thực tiễn áp dụng các quy định trên bộc lộ nhiều điểm nghẽn và mâu thuẫn pháp lý:

  • Đối với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng: Không có tính khả thi đối với hàng hóa mùa vụ (bánh trung thu, cây mai, đào...) khi thời cơ tiêu thụ đã qua, hoặc hàng hóa bị nhà nước cấm lưu thông. Cụm từ "thực hiện đúng hợp đồng" bất khả thi khi vi phạm về thời hạn giao kết. Khoản 2 Điều 297 thiếu tiêu chí xác định khi nào thì buộc sửa chữa khuyết tật, khi nào thì giao hàng thay thế. Luật Thương mại năm 2005 chưa ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án hay Trọng tài cưỡng chế buộc thực hiện hợp đồng đối với trường hợp đối tượng là "vật đặc định", dẫn đến nguy cơ bên bán cố tình vi phạm để bán cho bên thứ ba trả giá cao hơn. Ngoài ra, quy định cấm tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong thời gian đang áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại khoản 1 Điều 299 mâu thuẫn trực tiếp với khoản 3 Điều 51 (cho phép bên mua tạm ngừng thanh toán khi hàng hóa không phù hợp).
  • Đối với chế tài phạt vi phạm: Việc xác định "giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm" để tính mức phạt trần 8% trong thực tiễn rất phức tạp. So với quy định tự do thỏa thuận không giới hạn mức trần của Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 2 Điều 418) và mức trần 12% của Luật Xây dựng năm 2014 (khoản 2 Điều 146), trần phạt 8% của Luật Thương mại năm 2005 bị giới hạn thấp nhất. Đồng thời, có sự không đồng bộ giữa Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 (mặc nhiên áp dụng bồi thường thiệt hại khi không có thỏa thuận phạt) và khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 (chỉ được áp dụng đồng thời cả phạt vi phạm và bồi thường nếu các bên có thỏa thuận).

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại trong hoạt động thương mại tại Việt Nam

Từ những tồn tại đã chỉ ra, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành:

  • Về hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung cơ chế cưỡng chế thực hiện hợp đồng thông qua cơ quan tài phán đối với tài sản là vật đặc định; làm rõ các tiêu chí áp dụng biện pháp thay thế hàng hóa hay sửa chữa khuyết tật tại Điều 297; xử lý dứt điểm mâu thuẫn giữa khoản 1 Điều 299 và khoản 3 Điều 51 nhằm cho phép bên bị vi phạm được tạm ngừng thanh toán khi đang yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng; sửa đổi cách tính phần nghĩa vụ vi phạm và nghiên cứu nâng mức trần phạt vi phạm 8% để hài hòa với Luật Xây dựng và Bộ luật Dân sự; hướng dẫn chi tiết khái niệm "vi phạm cơ bản" tại khoản 3 Điều 13 làm căn cứ thống nhất cho các chế tài tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng.
  • Về giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Nâng cao nhận thức, năng lực pháp lý hợp đồng của thương nhân Việt Nam trong việc soạn thảo, đàm phán điều khoản chế tài và miễn trách nhiệm; tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực thi và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại cho đội ngũ Thẩm phán Tòa án và Trọng tài viên Trọng tài thương mại.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và cấu trúc pháp lý của chế định chế tài thương mại theo Luật Thương mại năm 2005, chỉ rõ bản chất lỗi suy đoán trong trách nhiệm tài sản giữa các thương nhân. Tác giả đã bóc tách chi tiết các điểm chồng chéo, xung đột quy phạm giữa luật chuyên ngành (Luật Thương mại năm 2005) với luật chung (Bộ luật Dân sự năm 2015) và các luật chuyên ngành khác (Luật Xây dựng năm 2014), đặc biệt là xung đột về mức trần phạt vi phạm và điều kiện áp dụng đồng thời hai chế tài phạt vi phạm - bồi thường thiệt hại.

Về mặt đóng góp học thuật, công trình khắc phục được hạn chế của các nghiên cứu tiền nhiệm vốn chỉ nghiên cứu đơn lẻ từng chế tài (như công trình của Nguyễn Việt Khoa năm 2011, Nguyễn Thanh Tùng năm 2015) hoặc chỉ tập trung so sánh quốc tế (công trình của Phan Thùy Linh năm 2016). Khóa luận của Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã cung cấp cái nhìn toàn diện, gắn liền việc rà soát quy phạm thực định với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị lập pháp có tính khả thi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung chủ yếu vào việc bình luận, phân tích câu chữ của các quy phạm pháp luật thực định và so sánh văn bản luật, chưa tổng hợp được hệ thống số liệu thống kê thực tế về các vụ việc tranh chấp, bản án của Tòa án nhân dân các cấp hoặc phán quyết của các Trung tâm Trọng tài thương mại tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các chế tài trong hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ tổng quát theo Luật Thương mại năm 2005, chưa bao quát sâu sắc các loại hợp đồng thương mại mang tính chuyên ngành cao (như logistics, nhượng quyền thương mại, đại lý mua bán hàng hóa).

Hướng mở tiếp theo của đề tài là thu thập, phân tích thực nghiệm các án lệ và phán quyết trọng tài thực tế về việc tuyên mức phạt vi phạm, chứng minh thiệt hại thực tế và xác định "vi phạm cơ bản", đồng thời mở rộng nghiên cứu tác động của các cam kết thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) đối với việc hoàn thiện chế định chế tài thương mại tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự khi nghiên cứu về pháp luật hợp đồng thương mại. Báo cáo phân tích của khóa luận hỗ trợ đắc lực cho đội ngũ luật sư tư vấn, cán bộ pháp chế doanh nghiệp trong quá trình đàm phán, soạn thảo điều khoản chế tài, xác lập mức phạt vi phạm và dự liệu các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng kinh doanh.

Các nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm:

  • Phần phân tích, so sánh sự xung đột giữa khoản 1 Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 và khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 về mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại.
  • Phần luận giải mâu thuẫn nội tại giữa khoản 1 Điều 299 và khoản 3 Điều 51 Luật Thương mại năm 2005 liên quan đến quyền tạm ngừng thanh toán trong khi đang yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng.
  • Bốn căn cứ miễn trách nhiệm hợp đồng thương mại theo Điều 294 và thời hạn kéo dài nghĩa vụ khi xảy ra sự kiện bất khả kháng theo Điều 296 Luật Thương mại năm 2005.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức trần phạt vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại năm 2005 là bao nhiêu và khác biệt như thế nào so với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Xây dựng năm 2014? Theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (trừ dịch vụ giám định tại Điều 266). Trong khi đó, khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép các bên tự do thỏa thuận mức phạt mà không bị giới hạn mức trần, còn khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014 quy định mức trần phạt vi phạm hợp đồng xây dựng là 12%.

2. Bên bị vi phạm có phải chứng minh yếu tố lỗi của bên vi phạm khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm không? Không. Trong quan hệ hợp đồng thương mại, yếu tố lỗi được áp dụng theo nguyên tắc lỗi suy đoán. Bên bị vi phạm không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên kia mà chỉ cần chứng minh hành vi vi phạm (đối với phạt vi phạm) hoặc chứng minh hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả (đối với bồi thường thiệt hại). Bên vi phạm muốn không phải chịu trách nhiệm thì phải tự chứng minh mình thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm theo luật định.

3. Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm được áp dụng đồng thời các chế tài nào? Theo quy định tại khoản 1 Điều 299 Luật Thương mại năm 2005, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nhưng không được áp dụng các chế tài tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, thời hạn kéo dài thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được quy định cụ thể như thế nào? Theo Điều 296 Luật Thương mại năm 2005, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm bằng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả: tối đa không quá năm tháng đối với hàng hóa, dịch vụ có thời hạn thỏa thuận không quá mười hai tháng; tối đa không quá tám tháng đối với hàng hóa, dịch vụ có thời hạn thỏa thuận trên mười hai tháng kể từ khi giao kết. Hết thời hạn này, các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng.

5. Chế tài phạt hợp đồng trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp tại Việt Nam có những đặc điểm cơ bản nào? Trong cơ chế tập trung bao cấp (theo Nghị định số 04/TTg năm 1960 và Nghị định số 54/CP năm 1975), chế tài phạt hợp đồng mang tính chất hành chính do Hội đồng Trọng tài kinh tế áp dụng nhằm củng cố kỷ luật kế hoạch nhà nước. Tiền phạt hợp đồng được nộp vào ngân sách nhà nước thay vì bồi hoàn cho bên bị vi phạm, mức phạt rất thấp mang tính hình thức và được tính căn cứ theo tổng giá trị hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu nhà nước giao chứ không dựa trên mức độ vi phạm thực tế của các bên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã phản ánh hệ thống các quy định pháp luật thực định về chế tài thương mại theo Luật Thương mại năm 2005 trong tiến trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam. Công trình làm rõ bản chất tài sản, nguyên tắc lỗi suy đoán và quyền tự định đoạt của các đương sự trong việc kích hoạt các biện pháp chế tài. Qua việc phân tích những bất cập về mức trần phạt vi phạm, xung đột giữa luật chung và luật chuyên ngành, cùng các điểm vướng mắc khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, khóa luận đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi có giá trị tham khảo rõ ràng cho khoa học pháp lý thương mại.