Chương 1: Cơ sở lý luận thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại. Chương 2: Thủ tục thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại theo quy định pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay. Chương 3: Thực tiễn thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và kiến nghị. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ KINH DOANH, THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thƣơng mại 1. Khái niệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại Thi hành các BAQĐ của Tòa án về KDTM là thi hành về một loại BAQĐ của Tòa án trong THADS. Để làm rõ khái niệm thi hành các BAQĐ của Tòa án về KDTM, trước hết cần phải tìm hiểu rõ khái niệm về THADS và khái niệm về thi hành các BAQĐ của Tòa án. Pháp lệnh THADS năm 1993 được ban hành, THADS được tách khỏi Tòa án và giao cho Chính phủ quản lý.
Từ đó đến nay, đã có nhiều nhà khoa học đưa ra các quan điểm khác nhau về THADS, nhưng chưa có được quan điểm thống nhất về khái niệm THADS. Có ba quan điểm chính về THADS. Theo quan điểm thứ nhất thì hoạt động THADS là hoạt động hành chính, vì hoạt động THADS ở nước ta lại không do Tòa án - cơ quan tư pháp thực hiện, trong hoạt động THADS lại mang tính điều hành và chấp hành đó là đặc trưng của hoạt động hành chính. Theo quan điểm thứ hai thì hoạt động THADS là hoạt động hành chính - tư pháp vì hoạt động THADS là hoạt động điều hành và chấp hành BAQĐ của Tòa án - cơ quan tư pháp, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
Theo quan điểm thứ ba thì hoạt động THADS là hoạt động tư pháp, vì THADS gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện2. Các quan điểm nêu trên, mỗi quan điểm lại dựa trên những cơ sở nhất định. Nhưng, tác giả cho rằng THADS là hoạt động hành chính theo quan điểm thứ nhất 2. Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.
7 và THADS là hoạt động tư pháp theo quan điểm thứ ba đều chưa thực sự đầy đủ và chưa phù hợp với thực tế. Hoạt động THADS không giống như hoạt động điều tra của Công an hay hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) vì hoạt động THADS không phải trực tiếp giúp Tòa án đưa ra các BAQĐ. Hoạt động THADS chỉ là tổ chức thi hành các BAQĐ của Tòa án, chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ cơ quan THADS là cơ quan tiến hành tố tụng và CHV là người tiến hành tố tụng. Không chỉ có cơ quan THADS là cơ quan duy nhất hiện nay được đưa ra thi hành các BAQĐ của Tòa án.
Bên cạnh hệ thống cơ quan THADS còn có tổ chức thừa phát lại được đưa ra thi hành các BAQĐ của Tòa án theo yêu cầu. Hiện nay, hoạt động THADS của thừa phát lại được thực hiện theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại. Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền tổ chức THADS theo yêu cầu của đương sự, nhưng không phải là một cơ quan tư pháp. Do đó, hoạt động THADS không phải là hoạt động tố tụng, hành chính hay tư pháp đơn thuần.
Tác giả nhất trí hoạt động THADS là hoạt động hành chính - tư pháp theo quan điểm thứ hai. Trong hoạt động THADS thể hiện được quyền lực nhà nước, vừa có tính chất hoạt động hành chính và vừa mang yếu tố hoạt động tư pháp với mục đích là đưa BAQĐ của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác ra thi hành trên thực tế, dựa vào những cơ sở sau: Một là, THADS với những đặc điểm của hoạt động hành chính. Hoạt động THADS diễn ra sau quá trình xét xử, giải quyết của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền. Cơ sở để tiến hành các hoạt động THADS là các BAQĐ theo quy định pháp luật.
Như vậy, sẽ không có hoạt động THADS nếu không có kết quả của hoạt động xét xử, giải quyết của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động THADS là hoạt động hành chính nhà nước, vì toàn bộ quá trình THADS với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các BAQĐ của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền và theo các quy định cụ thể của pháp luật THADS. Do đó, hoạt động THADS thể hiện tính chấp hành, 8 quản lý rất rõ. Trong hoạt động THADS, cơ quan THADS và CHV phải tổ chức đôn đốc, giáo dục, thuyết phục người phải THA để họ tự nguyện THA.
Nếu người phải THA có điều kiện nhưng không tự nguyện thi hành thì cơ quan THADS và CHV phải áp dụng các biện pháp bảo đảm hay biện pháp cưỡng chế THA, buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong BAQĐ của Tòa án hoặc các quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định pháp luật. Qua đây, hoạt động THADS có tính chất giáo dục mọi người có ý thức pháp luật, tôn trọng lợi ích cá nhân, tổ chức và cộng đồng, giữ vững kỷ cương của Nhà nước. Do đó, hoạt động THADS yêu cầu phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra,… đó là tính chất của hoạt động quản lý. Trong hoạt động THADS thực hiện phương pháp động viên, giáo dục, thuyết phục tự nguyện THA là cần thiết, nhưng nếu không hiệu quả thì phải thực hiện phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc như cưỡng chế THA lại mang tính đặc thù.
Hai là, THADS chủ yếu do cơ quan tư pháp tiến hành. Quá trình THADS, có nhiều thành phần, cơ quan, tổ chức tham gia, nhất là thi hành các vụ việc có tính chất phức tạp ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Trong đó, cơ quan tư pháp có vai trò chính trong tổ chức hoạt động THADS. Căn cứ và cơ sở để tiến hành các hoạt động THADS là các quy định pháp luật, các BAQĐ của Tòa án và các quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Trong quá trình tố tụng của vụ án, hoạt động THADS có thể thực hiện ngay khi việc xét xử, giải quyết vụ án chưa kết thúc, như thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Sau khi việc xét xử, giải quyết vụ án kết thúc, Tòa án và cơ quan THADS vẫn tồn tại mối quan hệ như việc cơ quan THADS yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc kiến nghị xem xét lại khi phát hiện có sai sót trong BAQĐ hoặc án tuyên không rõ, khó thi hành. Trong giai đoạn cơ quan THADS đang tổ chức THA thì Chánh án Tòa án nhân dân (TAND) tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao vẫn có thể kháng nghị BAQĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và 9 yêu cầu cơ quan THADS hoãn THA, tạm đình chỉ THA theo quy định pháp luật. VKSND các cấp kiểm sát hoạt động THADS, người có thẩm quyền của VKSND các cấp có thể kháng nghị đối với các quyết định về THADS theo quy định pháp luật.
Luật THADS đã quy định các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành BAQĐ về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong BAQĐ hình sự, phần tài sản trong BAQĐ hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; hệ thống tổ chức THADS và CHV; quyền, nghĩa vụ của người được THA, người phải THA, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động THADS (Điều 1 Luật THADS). Với những lý do được nêu trên, tác giả có quan điểm về khái niệm THADS: THADS là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm tổ chức thực hiện các BAQĐ của Tòa án về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong BAQĐ hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại. Từ khái niệm về THADS, tác giả đưa ra khái niệm thi hành các BAQĐ của Tòa án: Thi hành các BAQĐ của Tòa án là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm tổ chức thực hiện các BAQĐ của Tòa án về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong BAQĐ hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. 10 Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) hiện hành, thì các vụ việc dân sự bao gồm: Các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động và các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động (Điều 1 BLTTDS năm 2015).
Tuy vậy, để hiểu đầy đủ, chính xác khái niệm thi hành các BAQĐ của Tòa án về KDTM thì cần phải làm rõ thêm về thuật ngữ “kinh doanh, thương mại”.