CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TƯ NHÂN HÓA (PPP) TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG HÀNG KHÔNG 1. Tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về chính sách tư nhân hóa và thực thi chính sách tư nhân hóa Có thể nêu một vài nghiên cứu như sau : Parker và nhóm các tác giả (1998) đã đưa ra trong nghiên cứu “Privatization in the European Union: Theory and Policy Perspectives” cái nhìn tổng quan về tư nhân hóa, so sánh lý thuyết và thực tiễn chính sách tư nhân hóa tại các quốc gia Châu Âu và vai trò của EU trong việc xây dựng chính sách. Nghiên cứu “Privatization in Malaysia: Regulation,Rent-Seeking and Policy Failure” của Jeff Tan (2008) đưa ra câu hỏi về sự cần thiết đối với việc tư nhân hóa tại các quốc gia đang phát triển, các nguyên nhân về sự thất bại của tư nhân hóa, các điều kiện cần thiết để thực hiện tư nhân hóa thành công, và đưa ra các lý giải áp dụng vào các trường hợp thực tiễn về tư nhân hóa tại Malaysia.
Michal Mejstrik và nhóm tác giả của nghiên cứu “The privatization process in East-Central Europe: Evolutionary Process of Czech Privatization” (1997) đã phân tích quá trình thay đổi của tư nhân hóa tại Czech những năm 1990 với góc nhìn khách quan và nhận định rằng tư nhân hóa không phải là mục tiêu mà chỉ là điều kiện cần có cho việc tái cấu trúc nền kinh tế. Kothenburger và các tác giả (2006) trong ấn phẩm “Privatization Experiences in the European Union” đã đưa ra khung khái niệm về tư nhân hóa và thực tiễn tư nhân hóa tại các nước Châu Âu và đi đến kết luận rằng tác động của tư nhân hóa phụ thuộc vào hình thức tư nhân hóa và quốc gia đó lựa chọn 7 z và thường bị bỏ qua bởi các các thiết chế chính trị và văn hóa vốn có tại các quốc gia đó khi hướng tới tư nhân hóa. Hơn nữa, thước đo phù hợp đối với sự thành công hoặc thất bại của tư nhân hóa vẫn là một vấn đề chưa có câu trả lời, mà hiện chỉ mới dừng ở mức phận loại mức độ thành công/thất bại dựa trên kinh nghiệm của từng quốc gia. Ấn phẩm “Privatization and After: Monitoring and Regulation” của Ramanadham (1994) tổng hợp các thảo luận về sự cần thiết của việc giám sát tư nhân hóa nhằm đánh giá việc đạt được các mục tiêu và sự đóng góp của tư nhân hóa cho phát triển kinh tế, phân tích quy định pháp luật của Anh Quốc và hàm ý cho các quốc gia đang phát triển.
Ngoài ra còn nhiều ấn phẩm tổng hợp khác của Bennett (How does privatization work? – 1998), Baldassarri (Privatization Processes in Eastern Europe: Theoretical Foundations and Empirical Results – 1993), MacAvoy (Privatization and State-Owned Enterprises: Lessons from the United States, Great Britain and Canada – 1989), hay Kessides (Reforming Infrastructure. Privatization, Regulation, and Competition – 2005) là các ấn phẩm có giá trị tham khảo trong các nghiên cứu về tư nhân hóa nói chung. Thực thi chính sách tư nhân hóa trong phát triển cơ sở hạ tầng hàng không Tư nhân hóa trong phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng hàng không, đã là xu hướng nổi lên trên thế giới trong nhiều năm trở lại đây. Trong rất nhiều các lý do đằng sau xu hướng này, lý do chủ yếu là để tiếp cận nguồn vốn tư nhân đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời nâng cao chất lượng vận hành, khai thác dịch vụ.
Trong nghiên cứu “Privatization, corporatization, ownership forms and their effects on the performance of the world’s major airports” (2006), nhóm 8 z tác giả Oum, Adler, và Yu đã đưa ra trong nghiên cứu của mình so sánh về hiệu quả quản lý giữa mô hình quản lý CHKSB bởi nhà nước và tư nhân và cho rằng, sự quản lý của nhà nước luôn bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong khi sự quản lý của tư nhân thì luôn đạt hiệu quả do được điều chỉnh bởi yếu tố tối đa hóa lợi nhuận. Lập luận này cũng được bổ sung bởi Gillen (The evolution of airport ownership and governance – 2011) khi ông cho rằng các CHKSB thuộc sở hữu nhà nước sẽ chỉ tập trung vào chức năng chính của nó mà không quan tâm đến các yếu tố về giá trị thương mại, và sẽ “không có sự nhất quán giữa chính sách và việc sử dụng hiệu quả các cơ sở hạ tầng của CHKSB”. Trong nghiên cứu của Bennett và Johnson (Tax Reduction without Sacrifice Private-Sector Production of Public Services – 1980), nhiều chứng minh cũng được đưa ra để bổ trợ cho lập luận sở hữu tư nhân mang lại sự quản lý tốt hơn sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, cũng có những lập luận theo chiều hướng trung lập hơn.
Vickers and Yarrow (Economic perspectives on privatization – 1991) chỉ ra rằng sở hữu tư nhân cũng có những lợi thế nhất định, tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với sự thiếu hiệu quả của sở hữu nhà nước. Hơn nữa, tính hiệu quả của khai thác CHKSB phụ thuộc nhiều vào yếu tố cạnh tranh chứ không phải do vấn đề thuộc quyền sở hữu. Tác giả Palhares và Santo Jr. (2001) trong nghiên cứu “A comparison study of medium airport management in different countries” đã phân tích các chỉ số liên quan đến lợi nhuận và chi phí tại các cảng hàng không của Canada, Australia và một số quốc gia khác, và đặt câu hỏi về việc sử dụng các chỉ số này để đánh giá sự thành công của việc tư nhân hóa CHKSB.
Trong tài liệu thảo luận “Airport Privatization in India”, tác giả Ohri (2009) nghiên cứu về tư nhân hóa cảng hàng không tại Ấn Độ và đưa ra kết 9 z luận về tầm quan trọng của việc xây dựng hợp đồng nhượng quyền giữa nhà nước và tư nhân, đồng thời xây dựng cơ chế kiểm soát phù hợp để đạt được các lợi ích của việc tư nhân hóa. Gong và nhóm tác giả (2012) thông qua nghiên cứu “The impact of airport and seaport privatization on efficiency and performance: A review of the international evidence and implications for developing countries” đã rút ra các kết luận quan trọng cho việc xây dựng chính sách tư nhân hóa cảng hàng không và cảng biển, đó là: (1) Quá trình đánh giá sự thành công của một dự án tư nhân hóa cần phải có thời gian đủ dài để nghiên cứu những sự thay đổi trong hoạt động khai thác của dự án đó; (2) Đối với việc đánh giá các mô hình sở hữu, thì việc đánh giá sự thay đổi trong quản lý của một mô hình công ty trước và sau khi tiến hành tư nhân hóa sẽ thường mang lại kết quả đáng tin cậy hơn; và (3) Ngoài các chỉ số về kỹ thuật thì các chỉ số về tài chính, cũng như đánh giá của hành khách đối với chất lượng dịch vụ cũng cần được vận dụng để đánh giá tổng thể đối với chính sách tư nhân hóa. Tuy vậy, cũng có ý kiến trái chiều, không ủng hộ tư nhân hóa cảng hàng không như tác giả Kriesler trong nghiên cứu “Why privatize airports?” (1996) cho rằng, do giá trị mua bán của cảng hàng không thường thấp hơn giá thị trường, đồng thời nguồn thu từ khai thác cũng không chảy vào ngân sách, nguồn tiền từ việc bán cảng hàng không sẽ thấp hơn giá trị thực tại cũng như giá trị gia tăng của chính cảng hàng không đó, và như vậy, tư nhân hóa không phải là một lựa chọn tốt. Trong nước cũng có một số nghiên cứu về tư nhân hóa trong phát triển cơ sở hạ tầng nói chung, cụ thể là cơ chế hợp tác Công – Tư.
Đề tài khóa luận tốt nghiệp với tiêu đề “Cơ chế hợp tác Nhà nước - Tư nhân trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Trí Dũng, Trần Diễm Lan, Nguyễn Thị Thanh Tâm do TS. Hồ Sĩ Hùng (Cục Phát triển 10 z doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và TS. Sven Jungerhern (Giảng viên Khoa Chính phủ, Đại học Uppsala Thụy Điển) hướng dẫn được hoàn thành vào tháng 6/2011 và tập trung chủ yếu vào mô hình hợp tác Nhà nước – Tư nhân trong đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và các trường hợp cụ thể về mô hình hợp tác Nhà nước – Tư nhân thuộc lĩnh vực xử lý rác thải và cung cấp nước sinh hoạt. Một số kiến nghị của Nhóm nghiên cứu về giải pháp nhằm áp dụng có hiệu quả mô hình hợp tác Nhà nước – Tư nhân trong đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại Việt Nam vẫn còn giá trị, có thể tham khảo.
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thanh trình bày trong nghiên cứu “Đầu tư theo hình thức Công – Tư để phát triển cơ sở hạ tầng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” (2016) đã trình bày các lợi thế của mô hình đối tác Công – Tư trong đầu tư cơ sở hạ tầng, nhận định một số khó khăn của Việt Nam, đồng thời nêu các kinh nghiệm của Singapore và Indonesia trong quá trình áp dụng đầu tư theo hình thức hợp tác Công – Tư để làm bài học cho Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình làm luận văn này, học viên sử dụng phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin, số liệu, bao gồm số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT – XH của tỉnh Quảng Ninh, số liệu báo cáo khai thác của Cảng HKQT Vân Đồn năm 2019; tham khảo các báo cáo về số liệu vận tải hàng không thế giới, các công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách tư nhân hóa trong phát triển cơ sở hạ tầng đã được công bố để làm rõ thêm kết quả nghiên cứu của luận văn. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thông tin được thu thập và khai thác từ các báo cáo khoa học, sách, báo, tạp chí, các website có liên quan đến đề tài nghiên cứu trong phạm vi cả nước. Khung phân tích 11 z Hình 1.
Khung phân tích về thực thi chính sách tư nhân hóa trong phát triển cơ sở hạ tầng hàng không tại Cảng HKQT Vân Đồn để đưa ra các khuyến nghị chính sách 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về thực thi chính sách tư nhân hóa (PPP) 1. Khái niệm chính sách công Định nghĩa về chính sách công đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đưa ra và có nhiều quan điểm khác nhau. Theo Thomas Dye (2014, trang 3), quan niệm về chính sách công rất đơn giản, đó là: “Chính sách công là bất kỳ những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”.