phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thực thi chính sách tinh giản biên chế tại các cơ quan hành chính Nhà nƣớc Luan van 7 Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách tinh gian biên chế của các cơ quan HCNN tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách tinh giản biên chế ở nƣớc ta từ thực tiễn của cơ quan HCNN tại Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Luan van 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. Khái quát chung về biên chế và tinh giản biên chế 1. Khái niệm biên chế Cơ quan hành chính nhà nước là những bộ phận hợp thành của bộ máy quản lý được thành lập để chuyên thực hiện chức năng quản lý nhà nước (hoạt động chấp hành và điều hành, hoạt động hành pháp) Biên chế trong các cơ quan nhà nước trước đây là số người làm việc trong cơ quan để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và được hưởn g lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương) phê duyệt và giao, làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm.
Có thể hiểu khái niệm biên chế qua các nội dung sau: Theo Nghị định số 71/2003/NĐ-CP, ngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân cấp quản lý biên chế hành chính sự nghiệp nhà nước đã đưa ra khái niệm: “Biên chế hành chính là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các tổ chức giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nhân dân cấp huyện) thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý hành chính nhà nước được giao”. “Biên chế sự nghiệp là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước về giáo dục và đào tạo, khoa học, y tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao và các đơn vị sự nghiệp khác do cơ quan có thẩm Luan van 9 quyền quyết định thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc để thực hiện một số dịch vụ công của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định của pháp luật” Tóm lại, biên chế là số người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, do đơn vị quyết định hoặc được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo hướng dẫn của Nhà nước. Khái niệm tinh giản biên chế Sự chuyên nghiệp của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nghĩa là phải kết hợp các yếu tố: năng lực chuyên môn liên quan đến công vụ, sự thành thạo nghiệp vụ trong thực thi công việc được giao. Thành thạo là sử dụng nhuần nhuyễn các kiến thức, kỹ năng, xử lý các quan hệ gắn với công vụ được giao.
Trách nhiệm là nhấn mạnh đến yếu tố nhân cách của người công chức. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nước ta có một đội ngũ không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức “sáng cắp ô đi làm, chiều cắp ô về”, sức ép lên ngân sách nhà nước trong việc chi trả lương ngày càng lớn. Thực trạng ấy đã và đang đặt ra yêu cầu bức thiết là cần thực hiện quyết liệt và hiệu quả chính sách tinh giản biên chế. Tinh giản biên chế được hiểu là việc đánh giá, phân loại đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế (khoản 2 Điều 3 Nghị định 108/NĐ-CP).
Tinh giản biên chế được định nghĩa theo khoản 2, Điều 3, Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì: “Tinh giản biên chế” được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế. Luan van 10 Như vậy, tinh giản biên chế là việc áp dụng các giải pháp phân loại, sàng lọc loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết làm cho đội ngũ CBCC chất lượng hơn, tinh thông hơn. Mục đích của tinh giản biên chế là làm cho biên chế của cơ quan, đơn vị tổ chức có chất lượng hơn, hợp lý hơn. Mục tiêu của tinh giản biên chế không đơn thuần là giảm về số lượng CBCC, giảm chi phí hành chính, giảm ngân sách nhà nước.
Mục tiêu chính của tinh giản biên chế là làm cho cơ cấu, chất lượng, số lượng của đội ngũ CBCC, nhất là chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, ngày một nâng cao, ngày một tốt hơn, hợp lý hơn và như vậy tinh giản biên chế không mâu thuẫn với việc tuyển dụng mới CBCC, tinh giản biên chế tạo cơ sở để tuyển dụng mới CBCC vào bộ máy. Tinh giản biên chế không thuần túy giảm theo số lượng mà phải tinh giản theo cơ cấu CBCC.3 Vai trò của việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính Nhà nước Vai trò của việc tinh giản biên chế là để cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Chọn lựa được những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tinh giản biên chế sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, cải cách công vụ, công chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc phục vụ nhân dân và cải cách chính sách tiền lương.
Và đặc biệt vai trò của việc tinh giản biên chế là giảm ngân sách cho nhà nước. Chính sách tinh giản biên chế tại các cơ quan hành chính Nhà nước 1.1 Khái niệm chính sách tinh giản biên chế Trước hết, có thể nghiên cứu các khái niệm về chính sách công, như sau: Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và Luan van 11 không làm. Theo cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền làm hoặc không làm phải có tác động, ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến nhân dân thì mới là chính sách công. Như vậy không phải tất cả những việc mà chính quyền làm hoặc không làm đều là chính sách công.
Ví dụ: chủ trương cho người lao động nghỉ làm vào các ngày lễ, tết là chính sách công vì đó là việc chính quyền làm và có tác động, ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đến người dân; còn tổ chức thực hiện việc nghỉ lễ, tết thế nào cho hợp lý (làm bù hay nghỉ bù) không phải chính sách công mà là thực hiện chính sách công (tuy nhiên chính quyền vẫn phải có quyết định về việc này); TS. Đặng Ngọc Lợi trong bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về chính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. So với các quan niệm trên thì điểm khác căn bản trong cách tiếp cận nhận thức về chính sách công là tính công của chính sách, tính công thể hiện trong quan niệm của TS. Đặng Ngọc Lợi là nhà nước, chính phủ khác với quan niệm của các học giả Âu Mỹ xem tính công của chính sách là công cộng (công chúng, đối tượng chịu sự điều chỉnh, tác động của chính sách); Từ khái niệm chung của chính sách công, có thể đưa ra định nghĩa: Chính sách tinh giản biên chế là quan điểm, là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước về tinh giản biên chế với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm phân loại, đánh giá, sàng lọc đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không tiếp tục bố trí công tác công tác khác và giải quyết các chế độ cho họ.
Nói cách khác, chính sách tinh giản biên chế là tổng thể những quan điểm, các quyết định của Nhà nước về tinh giản biên chế với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC; thu hút Luan van 12 những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, tiết kiệm, giảm chi thường xuyên, cải cách chính sách tiền lương. Quan điểm của Đảng về tinh giản biên chế - Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong quá trình thực hiện. Bộ Chính trị quy định quản lý thống nhất biên chế của cả hệ thống chính trị. - Thống nhất nhận thức và hành động, quyết tâm thực hiện tinh giản biên chế, nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
- Tiến hành đồng bộ với các hoạt động cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp công. Trên cơ sở danh mục vị trí việc làm, cơ cấu công chức, viên chức hợp lý để xác định biên chế phù hợp. Một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện.