phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề chung về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực hành chính. Thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực hành chính của tỉnh Thái Bình. Một số giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực hành chính trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH 1. Những vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực hành chính và chính sách phát triển nguồn nhân lực hành chính 1. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn lực con ngƣời hay nguồn nhân lực là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là số lƣợng (số dân) và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó1. Phạm Minh Hạc: nguồn nhân lực là tổng thế các tiềm năng lao động của một nƣớc hoặc một địa phƣơng, tức nguồn lao động đƣợc chuẩn bị sắn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng bằng con đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [10].
Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá. Các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con ngƣời không chỉ đơn thuần là lực lƣợng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia đƣợc đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nhƣ vậy, xem xét dƣới nhiều góc độ có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhƣng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định (còn gọi là độ tuổi lao động) tùy theo quy định của mỗi quốc gia, có khả năng tham gia lao động xã hội. Độ tuổi lao động cũng khác nhau tùy theo mỗi quốc gia. Ở Việt Nam hiện nay, độ tuổi lao động đƣợc quy định theo Bộ luật Lao động là từ 15- 60 đối với nam và từ 15- 55 đối với nữ. Cũng có nƣớc quy định tuổi lao động tối đa là 60, có nƣớc 65, thậm chí có nƣớc là 70 tuổi, hoặc ở Úc, không có quy định tuổi về hƣu.
Xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực cùng với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ sự phát triển nói chung của các tổ chức, do vậy, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời của tổ chức có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [5]. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mối cá nhân và của đất nƣớc [16]. Nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lƣợng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con ngƣời trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội [7]. Theo Tổ chức lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của mỗi quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động. Từ các quan niệm trên có thể khái quát nguồn nhân lực là tổng thể số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực của bản thân con ngƣời và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực “Phát triển” là một khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Triết học Mác – Lênin chỉ rõ: “Phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tƣợng theo hƣớng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [1]. Nhƣ vậy khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm vận động (hay biến đổi) nói chung, đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lƣợng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hƣớng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn. Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết những mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tƣợng, là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật hiện tƣợng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tƣợng mới.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hƣớng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đến phức tạp” [36]. Từ những quan niệm trên, tác giả có thể hiểu về phát triển nhƣ là tăng trƣởng tiến lên; biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về lƣợng lẫn chất, cả về thời gian và không gian của sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời trong xã hội. Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức đƣợc tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của ngƣời lao động. Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con ngƣời nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Theo quan điểm sử dụng năng lực con ngƣời của Tổ chức quốc tế về lao động, phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự gia tăng trình độ lành nghề mà bên cạnh sự phát triển năng lực còn phải làm cho con ngƣời có đƣợc việc làm hiệu quả cũng nhƣ thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO: phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng nhƣ thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân [13]. Việt Nam cũng đƣa ra quan điểm riêng của mình về phát triển vốn nhân lực phù hợp với tình hình đất nƣớc. Mục tiêu chiến lƣợc của phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là đáp ứng sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc để đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp.
Tại Đại hội lần thứ IX của Đảng, đã định hƣớng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Ngƣời lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, đƣợc đào tạo và bồi dƣỡng bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ”. Trƣớc hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập đƣợc tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho ngƣời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lao động. Các hoạt động đó có thể đƣợc cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho ngƣời lao động theo hƣớng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. Nhƣ vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển.
- Giáo dục: đƣợc hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngƣời bƣớc vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tƣơng lai. - Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): đƣợc hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.