Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG. Khái niệm chung 1. Khái niệm thực hiện pháp luật Khi xây dựng pháp luật, Nhà nước ta mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ lợi ích của nhân dân lao động. Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế.
Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước. Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau. Tất cả những hành vi, xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của pháp luật đều được coi là việc chấp hành pháp luật. Đó là những hành vi, xử sự của các cá nhân, tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật, có ích cho xã hội, Nhà nước và cá nhân.
Vậy thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Thực hiện pháp luật là hành vi thể hiện bằng cách hành động hoặc không hành động của một chủ thể được tiến hành phù hợp với những yêu cầu và quy định của pháp luật, không trái với những quy định pháp luật và không trái với những khuôn khổ pháp luật quy định. Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự mang tính thụ động hoặc chủ động. Thực hiện pháp luật mang tính chủ động được thực hiện bằng một thao tác, hành vi nhất định.
Thực hiện pháp luật mang tính thụ động có nghĩa là chủ thể không thực hiện hành vi, xử sự nào mà pháp luật cấm. Khái niệm người có công 13 Luan van Người có công, trong tiếng Anh, là Meritorious person. Có các khái niệm khác nhau chỉ người có công. Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng trí tuệ, thậm chí cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp của dân tộc.
Hay, người có công là những con người có thành tích đóng góp hoặc có những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích dân tộc, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Ở một cách hiểu khác, người có công là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nước, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng, không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa [8, tr. Có thể nói, người có công là một phạm trù quan trọng trong ý thức hệ con người Việt Nam. Bởi lẽ, trải qua lịch sử các cuộc kháng chiến trường kỳ và chiến tranh cứu nước, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới có thể trở thành một đất nước tự do, phát triển như hiện nay cũng là nhờ một phần công lao rất lớn của những con người này.
Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chế độ, chính sách đặc biệt nhằm quan tâm và ưu đãi những người có công với cách mạng và gia đình có công với cách mạng. Thực hiện pháp luật đối với người có công Thực hiện pháp luật đối với người có công là công cụ quan trọng trong quản lý xã hội trong lĩnh vực chính sách công. Đây được coi là những hoạt động nhằm thể chế hóa các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công cũng như tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, cá nhân nâng cao nhận thức, tham gia một cách tích cực vào hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho người có công, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và tạo điều kiện thuận lợi để người có công xây dựng cuộc sống, tiếp tục khẳng định vai trò của họ trong xã hội. Thực hiện pháp luật đối với người có công là tổng thể những bộ quy tắc ứng xử đối với người có công và thân nhân của họ.
Theo đó, người có công được hưởng các chế độ, chính sách dựa theo công lao, mức độ cống hiến của 14 Luan van họ đối với đất nước. Pháp luật ưu đãi xã hội có các tính chất như: tính dân tộc, tính xã hội, tính nhân đạo. Đó là những quy định chung của nhà nước về việc ghi nhận công lao đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có công, tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với người có công. Qua đó, thực hiện pháp luật đối với người có công là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách ưu đãi với người có công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống.
Thực hiện pháp luật đối với người có công bao gồm công tác thực hiện bộ quy tắc ứng xử với người có công, quy định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với người có công, điều chỉnh tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động ưu đãi với người có công, từ đó đảm bảo thực hiện một cách tốt nhất, hiệu quả nhất các chế độ, ưu đãi đối với người có công. Chủ thể thực hiện pháp luật đối với người có công Pháp luật đối người có công là công cụ quan trọng trong việc quản lý xã hội trong lĩnh vực này và chủ thể thực hiện pháp luật này chính là Đảng và các cơ quan Nhà nước chuyên trách có thẩm quyền. Thực hiện pháp luật đối với người có công được thể chế hóa lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 quy định chế độ lưu hưu thương tật đối với thương binh, tiền tuất đối với gia đình tử sĩ. Từ năm 1986 đến nay, trong vấn đề pháp luật đối với người có công, hệ thống pháp luật nước ta đã có những thay đổi quan trọng để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của thời kỳ đổi mới.
Nhà nước đã đề ra nhiều văn bản luật ưu đãi xã hội đối với người có công, trong đó nổi bật nhất là việc ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1994 (Pháp lệnh ưu đãi năm 1994) và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước 15 Luan van “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994. Đây là hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, đánh dấu sự tiến bộ trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công, cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành hai pháp lệnh này tạo thành hệ thống pháp luật về người có công. Năm 1998 và năm 2000, Pháp lệnh ưu đãi năm 1994 lại được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới và quá trình cải cách hành chính. Cơ quan hành chính với tư cách là cơ quan hành pháp đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện đưa pháp luật vào đời sống xã hội.
Năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng thay thế Pháp lệnh ưu đãi năm 1994 vì không còn phù hợp, chưa thực sự công bằng, Chính phủ và các Bộ cũng đã ban hành nghị định, thông tư hướng dẫn. Năm 2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005. Ngày 09/4/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Uu đãi người có công với cách mạng. Ngày 15/5/2013, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân.
Nội dung cơ bản của việc thực hiện pháp luật đối với người có công, gồm: ưu đãi về trợ cấp (trợ cấp ưu đãi một lần, trợ cấp tuất liệt sĩ, trợ cấp thương tật, bệnh tật cho thương bệnh binh, trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng,…); ưu đãi về kinh tế - xã hội (ưu đãi về y tế, giáo dục, đào tạo, lao động việc làm, tín dụng, nhà ở, đất ở…); chinh sách hỗ trợ qua vận động toàn dân thực hiện phong trao chăm sóc người có công với 5 chương trình: xây dựng nhà tình nghĩa, trao sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc thương binh, bệnh binh nặng; bố mẹ liệt sĩ cô đơn, con liệt sĩ mồ côi; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng, cải tạo các công trinh ghi công, mộ, nghĩa trang liệt sĩ; quỹ đền ơn đáp nghĩa… 16 Luan van Thực hiện pháp luật đối với người có công của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua đã đi vào cuộc sống, có vai trò, ý nghĩa rất to lớn. Về bản chất, nó là chính sách đền ơn đáp nghĩa của cộng đồng, là sự phản ánh trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cộng đồng trong việc chăm lo về mọi mặt đời sống tinh thần và vật chất đối với những người có nhiều công lao với dân, với nước trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước qua mọi thời kì. Pháp luật đối với người có công là một chính sách đặc biệt giành cho những đối tượng đặc biệt. Vì thế, Nhà nước với vai trò và chức năng của minh, sử dụng các biện pháp khác nhau để xây dựng và triển khai đưa các chính sách ưu đãi đối với người có công vào cuộc sống.
Không những vậy, Đảng và Nhà nước còn vận động, kêu gọi và khuyến khích mọi người dân, các tổ chức tham gia các phong trào thiết thực nhằm mục đích thực hiện tốt nhất chính sách ưu đãi đối với người có công. Là sự thể chế hóa các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với người có công, các quyền ưu đãi của người có công và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện các quyền đó. Pháp luật đối với người có công quy định những nguyên tắc, cách thức, phương pháp thực hiện các chế độ ưu đãi; điều chỉnh tất cả các hoạt động ưu đãi nhằm mục đích đảm bảo thực hiện một cách tốt nhất, hữu hiệu nhất các chế độ, ưu đãi đối với đối tượng đặc biệt này.