Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện “Hộ tịch” là một trong các thuật ngữ quen thuộc trong đời sống hiện nay. Tuy nhiên, đến nay vẫn tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “Hộ tịch”.
Dưới góc độ ngôn ngữ, “Hộ tịch” được hiểu theo các nghĩa khác nhau trong các Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả, cụ thể: Theo tác giả Nguyễn Văn Khôn viết tại Hán - Việt từ điển thì khái niệm Hộ tịch được hiểu là: “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”. Trong Từ điển tiếng Việt thì khái niệm Hộ tịch được nêu rõ hơn: “Hộ tịch là các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật, đăng ký hộ tịch, khai báo hộ tịch với công an khu phố”. Giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa là tài liệu đầu tiên định nghĩa thuật ngữ “Hộ tịch” dưới góc độ pháp lý, trong đó tiêu biểu là quan điểm của một số tác giả sau: Quan điểm “Hộ tịch - hay còn gọi là nhân thế bộ là cách sinh hợp pháp của một người trong gia đình và xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” được trình bày trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 của Tác giả Phan Văn Thiết.
Theo đó, Tác giả Phan Văn Thiết cũng có thể coi là người đầu tiên nêu lên quan niệm về “Hộ tịch”. 9 Các tác giả Lê Đình Chân, Vũ Văn Mẫu lại đưa ra các quan điểm khác về khái niệm “Hộ tịch”: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử”. Ngoài ra, Hộ tịch còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
Trước đây, khái niệm “Hộ tịch” hoàn toàn không dễ định nghĩa rõ ràng. Trên thực tế, đã có những cuộc thảo luận, những hội thảo về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng và dễ hiểu hơn. Trải qua quá trình lịch sử và phát triển, đến nay khái niệm này đã trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu vào trong nhận thức của nhân dân nên các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng định nghĩa này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 đến Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký hộ tịch như sau: “đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh…” [17].
Ngoài ra, Nghị định số 83/1998/NĐ- CP cũng quy định hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ước định. Với cách định nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” sẽ chính xác hơn chứ không phải thuật ngữ “Hộ tịch”. Bên cạnh đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chưa xác định được rõ ràng nội hàm của khái niệm nên cùng với khái niệm “Hộ tịch”.
[14] Kế thừa từ các khái niệm về Hộ tịch của những người đi trước, Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: 10 “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết”. [48] Để hiểu rõ hơn về khái niệm hộ tịch, chúng ta cần biết được khái niệm đăng ký hộ tịch là gì. Đăng ký hộ tịch được định nghĩa rõ tại khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014: “2. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.
Nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm các nội dung sau: - Nội dung về xác nhận: Vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử. - Nội dung về ghi chú hộ tịch: Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch khác của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (khai sinh; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; khai tử; thay đổi hộ tịch). Ngoài ra, còn có nội dung: Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, với sự kết hợp giữa khái niệm hộ tịch và đăng ký hộ tịch, chúng ta mới hiểu một cách đầy đủ khái niệm hộ tịch, những sự kiện hộ tịch của một con người từ khi sinh ra đến khi chết là những sự kiện nào thì khái niệm đăng ký hộ tịch đã chỉ rõ. 11 Từ những phân tích trên có thể hiểu Hộ tịch là những sự kiện cơ bản của nhân thân một con người từ khi sinh ra đến khi chết, bao gồm: các thông tin về khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, giám hộ, chấm dứt việc giám hộ; nhận cha, mẹ con, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc; ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi. Khái niệm “yếu tố nước ngoài” là một trong những thuật ngữ của Tư pháp quốc tế, dùng để chỉ những yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật mà những yếu tố đó có liên quan đến nước ngoài (theo Từ điển Luật học). Yếu tố nước ngoài trong pháp luật hộ tịch bao gồm: Chủ thể: là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các sự kiện hộ tịch phát sinh ở Việt Nam, ví dụ như: việc sinh, việc kết hôn, việc tử của người nước ngoài tại Việt Nam.
Người nước ngoài ở đây được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài, trong một số trường hợp người nước ngoài đồng thời có cả quốc tịch Việt Nam. Người nước ngoài còn là người không quốc tịch. Hay một bên đương sự là người Việt Nam còn bên kia là người nước ngoài. Giữa người Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài.
Yếu tố sự kiện pháp lý: Sự kiện đăng ký hộ tịch giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động đăng ký quản lý thông tin nhân thân bao gồm: các thông tin về khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, giám hộ, chấm dứt việc giám hộ; nhận cha, mẹ con, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại 12 dân tộc; ghi vào sổ hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài của của công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài từ khi sinh ra đến khi chết, Theo Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, khái niệm thực hiện pháp luật có thể hiểu là: “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình thực hiện hóa các quy định của pháp luật”. [32] Đăng ký, quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động có mục đích của các cơ quan đăng ký hộ tịch, của các chủ thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc thực hiện xác lập mối quan hệ pháp luật về hộ tịch, làm cho các quy định pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài đi vào đời sống và trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài còn là quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, người nước ngoài (đang cư trú tại Việt Nam hoặc sinh sống tại nước ngoài) và người Việt Nam ở nước ngoài.
Họ có nghĩa vụ khai báo, đăng ký về những sự kiện hộ tịch phát sinh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực hiện pháp luật về hộ tịch được thể hiện thông qua hành vi của công dân Việt Nam, của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các hành vi này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, luôn phù hợp với các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Có thể hiểu thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài là hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong việc xác lập các quan hệ về hộ tịch, làm cho các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đi vào đời sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các cơ quan nhà nước và của các chủ thể tham gia.