Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Norkeo Kommadam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Đức Thảo, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01), bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2016.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực, đặc biệt là việc tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ năm 2015 và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) xác định thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những chính sách hàng đầu của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào. Nguồn vốn này nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm vốn cho phát triển kinh tế - xã hội, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm cho người lao động. Trải qua hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Lào đã từng bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường, hình thành các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như năng lượng điện, khai khoáng vàng và đồng, cà phê, dệt may, sản xuất bia, chế biến gỗ, viễn thông và thủ công mỹ nghệ.
Tuy nhiên, dù Nhà nước Lào đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật tạo khung khổ pháp lý cho đầu tư nước ngoài (từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988, Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài năm 1994 đến Luật Khuyến khích đầu tư năm 2009, sửa đổi năm 2011), kết quả thu hút và sử dụng nguồn vốn này vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ khâu thực hiện pháp luật: các chủ thể thực hiện chưa nắm vững quy định; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thiếu tính thường xuyên; tình trạng tuân thủ và chấp hành pháp luật chưa nghiêm; việc áp dụng pháp luật của một số cơ quan có thẩm quyền đôi lúc còn mang tính chủ quan. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là một đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài ở nước CHDCND Lào, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài ở nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định và thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài ở nước CHDCND Lào.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài và thực trạng thực hiện pháp luật đầu tư ở nước CHDCND Lào; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng.
- Luận chứng cơ sở khoa học để đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài ở nước CHDCND Lào hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài ở nước CHDCND Lào, tiếp cận dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ nước CHDCND Lào, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trọng tâm là thực tiễn của Việt Nam.
- Về thời gian: Khảo sát tiến trình pháp luật và thực tiễn từ khi Nhà nước CHDCND Lào ban hành chính sách và văn bản pháp luật đầu tư nước ngoài đầu tiên năm 1986 đến năm 2015, định hướng giải pháp đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố tại Lào và Việt Nam theo các nhóm nội dung chuyên biệt.
Các hướng nghiên cứu tại Lào
-
Nhóm công trình về đầu tư và pháp luật đầu tư:
- Sengphet Bulom (2014) với luận văn "Pháp luật về hình thức đầu tư Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật đầu tư CHDCND Lào", làm rõ khái niệm pháp luật về hình thức đầu tư và rút ra bài học kinh nghiệm cho Lào.
- Phonepaseuth Mahanousith với công trình "Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư nhằm hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào", phân tích đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về vai trò khu công nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phutsady Phănnhaxít với nghiên cứu "Pháp luật về khuyến khích đầu tư ở nước CHDCND Lào - thực trạng và phương hướng hoàn thiện", phân tích việc mở cửa nền kinh tế và bảo đảm tự do kinh doanh.
- Bun thôm Phôm ma vông sy nghiên cứu "Đầu tư Nhà nước vào sự phát triển cơ sở hạ tầng kiến trúc ở tỉnh Sa La Văn", so sánh các quy định pháp luật đầu tư công giữa Lào và Việt Nam.
- BunTy ĐêtĐaVôngSỏn nghiên cứu "Cải thiện đầu tư của Nhà nước trong khu vực nông nghiệp", phân tích vai trò của nguồn vốn nhà nước đối với nông nghiệp.
- Syvanh Leemaitêng với luận văn "Các quy định pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và Lào - Nhìn từ góc độ so sánh".
- Khăm manh Sisath với đề tài "Pháp luật đầu tư của Lào trong tương quan so sánh với pháp luật đầu tư Việt Nam - Bài học kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật đầu tư của CHDCND Lào", nhấn mạnh yêu cầu ban hành luật đầu tư chung để tạo môi trường bình đẳng.
- Sengkhamyong Bounnaphone nghiên cứu "Các quy định về khuyến khích đầu tư - so sánh giữa pháp luật của Việt Nam và của CHDCND Lào".
- Sổm Sắc Sengsắcđa với nghiên cứu "Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Chăm pa Sắc nước CHDCND Lào".
-
Nhóm công trình về đầu tư nước ngoài và thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài:
- KhămLa LoVanXay với luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với đất đai ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào".
- Phonesay Vilaysach với luận án tiến sĩ "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào".
- Thặt sa na lon Sỉ su nôn với nghiên cứu "Quy tắc khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài ở CHDCND Lào trường hợp nghiên cứu việc đầu tư trong công trình thông thường", so sánh luật Lào với Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN năm 1987.
- Khăn Keo Đa Ly But với công trình "Giải quyết tranh chấp vấn đề xảy ra vì đầu tư nước ngoài nghiên cứu để so sánh hệ thống trong và ngoài tòa án".
- Alounny Manipakone với đề tài "Các biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thủ đô Vientian nước CHDCND Lào".
- Ekmongkhon Saiyavong với nghiên cứu "Nhất thể hóa pháp luật đầu tư của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật đầu tư của CHDCND Lào trong tiến trình gia nhập WTO".
- KhămSải Nănthavông nghiên cứu "Thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài căn cứ vào sự phát triển nền kinh tế ở Lào".
- BunSổng VaSayGì với công trình "Quản lý đầu tư trực tiếp trong nước và nước ngoài gắn vào khu vực nông nghiệp ở tỉnh Luông Nậm Thà".
- Souliya Pouangpadith nghiên cứu "Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào".
- Văn Xay Sen Nhot với các bài báo về "Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quy trình phát triển kinh tế các tỉnh miền núi phía Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" và "Để thu hút FDI nhiều hơn tại các tỉnh miền núi phía Bắc Lào".
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
-
Nhóm công trình về đầu tư và pháp luật đầu tư:
- Phan Thị Hương Thủy với luận án "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp Kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam".
- Nguyễn Khắc Định với luận án "Hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong xu hướng nhất thể chế hóa pháp luật về đầu tư ở Việt Nam", luận giải tính tất yếu của việc tạo lập mặt bằng pháp lý chung bình đẳng giữa đầu tư trong nước và nước ngoài.
- Hồ Hoàng Đức với luận án "Quản lý nhà nước trên lĩnh vực đầu tư xây dựng trong cơ chế kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa".
- Trịnh Thị Thu Hương (quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với FDI tại Hà Nội), Tống Thị Hạnh (quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng tại Hà Nội), Phạm Thị Kim Cúc (phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư tại Vĩnh Phúc), Nguyễn Huy Thường (quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản), Phạm Mỹ Hương (vấn đề pháp lý về hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC), Nguyễn Duy Nam (pháp luật quản lý nhà nước về đầu tư), Đỗ Thị Phương (đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam), Trần Bảo Yến (đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước).
-
Nhóm công trình về thực hiện pháp luật:
- Trần Tiến Hải với luận án "Thực hiện pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay".
- Nguyễn Văn Linh với luận án "Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay".
- Vũ Viết Thiệu (thực hiện pháp luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong xây dựng cơ bản), Nguyễn Văn Trường (thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Hà Nội), Đào Thị Mai (hiệu quả thực hiện pháp luật tại Hải Phòng), Trần Thị Xuân (thực hiện pháp luật tại Hà Nội), Lệ Thùy Dương (pháp luật về chuyển nhượng dự án bất động sản).
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Nội dung chính |
| Pháp luật đầu tư tại Lào |
Sengphet Bulom, Phutsady Phănnhaxít, Khăm manh Sisath |
So sánh pháp luật hình thức đầu tư Lào - Việt Nam; hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư; yêu cầu nhất thể hóa luật đầu tư. |
| Quản lý và thực tiễn FDI tại Lào |
Phonesay Vilaysach, Thặt sa na lon Sỉ su nôn, Khăn Keo Đa Ly But |
Thu hút FDI; so sánh quy chế đầu tư với cam kết ASEAN 1987; cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong và ngoài tòa án. |
| Pháp luật đầu tư tại Việt Nam |
Nguyễn Khắc Định, Phan Thị Hương Thủy, Đỗ Thị Phương |
Nhất thể hóa pháp luật đầu tư; giải quyết tranh chấp kinh tế có vốn FDI; đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. |
| Lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật |
Trần Tiến Hải, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Trường |
Các hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng); thủ tục hành chính và thực thi pháp luật ĐTNN cấp địa phương. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả khẳng định, các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, luật kinh tế chuyên ngành, luật so sánh hoặc nghiên cứu từng khía cạnh hẹp (chính sách ưu đãi, thủ tục hành chính, giải quyết tranh chấp). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Luận án đặt trọng tâm vào việc phân tích cấu trúc 4 hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng), chỉ ra các điều kiện bảo đảm chính trị, pháp lý, kinh tế - xã hội và đánh giá toàn diện thực trạng thực thi tại Lào từ năm 1986 đến 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc tiếp cận đa chiều về đầu tư, pháp luật đầu tư và thực hiện pháp luật:
-
Khái niệm đầu tư và đầu tư nước ngoài:
- Dưới góc độ kinh tế và kinh doanh: Đầu tư là việc bỏ vốn (tài sản hữu hình và vô hình) nhằm thu về lợi nhuận hoặc giá trị gia tăng trong tương lai.
- Dưới góc độ luật học: Khoản 1 Điều 3 Luật Khuyến khích đầu tư của Lào năm 2009 xác định đầu tư là việc nhà đầu tư sử dụng vốn hữu hình và vô hình vào kinh doanh, sản xuất tại CHDCND Lào.
- Phân loại đầu tư nước ngoài:
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Nhà đầu tư mua cổ phần, trái phiếu, chứng khoán hoặc góp vốn vào các quỹ tài chính mà không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Tác giả trích dẫn định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1977) nhấn mạnh tính lâu dài và quyền kiểm soát quản lý; định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB) về việc nắm giữ tối thiểu 10% vốn chủ sở hữu; quan điểm của các nhà kinh tế Trung Quốc về tỷ lệ cổ phần chi phối; và quy định tại Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005. Tổng kết lại, tác giả định nghĩa: "Đầu tư nước ngoài là loại hình kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đó để thiết lập các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư, nhờ đó họ có quyền sở hữu và tham gia quản lý, điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó".
-
Khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài: Dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, pháp luật đầu tư nước ngoài là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài nhằm bảo đảm các hoạt động đầu tư được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
-
Nội dung điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào:
- Quan điểm và chính sách: Khuyến khích đầu tư trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; bảo hộ tài sản không bị quốc hữu hóa, trưng thu trái phép; quy định các ngành nghề khuyến khích và các lĩnh vực cấm (ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, môi trường, văn hóa).
- Hình thức đầu tư: Doanh nghiệp liên doanh (nhà đầu tư nước ngoài đóng góp tối thiểu 30% tổng vốn đầu tư, quy đổi ra đồng Kip Lào theo tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Lào tại thời điểm góp vốn) và Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
- Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư: Quyền tự chủ kinh doanh, thuê và tô nhượng đất đai, tuyển dụng lao động (kể cả chuyên gia nước ngoài), cư trú và xin thị thực xuất nhập cảnh nhiều lần (mỗi lần không quá 5 năm), quyền chuyển vốn, tài sản và lợi nhuận hợp pháp ra nước ngoài sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế. Nghĩa vụ tuân thủ chế độ kế toán Lào, nộp thuế, bảo vệ môi trường, thực hiện chính sách bảo hiểm cho người lao động, ưu tiên tuyển dụng và đào tạo lao động Lào.
- Tổ chức quản lý nhà nước: Quy định chức năng, thẩm quyền của Ủy ban Quản lý Đầu tư trong việc thẩm định, cấp phép và quản lý hoạt động đầu tư.
-
Khái niệm và 4 hình thức thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài:
Dựa trên giáo trình lý luận của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện pháp luật được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Cụ thể gồm 4 hình thức:
- Tuân thủ pháp luật: Chủ thể kiềm chế, không thực hiện các hành vi bị pháp luật cấm (như không đầu tư vào lĩnh vực xâm hại an ninh, môi trường).
- Thi hành (chấp hành) pháp luật: Chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng hành động tích cực (như kê khai và nộp thuế, trích lập quỹ dự phòng, báo cáo tài chính).
- Sử dụng pháp luật: Chủ thể thực hiện quyền pháp lý được quy định theo ý chí của mình (như quyền khiếu nại, tố cáo, quyền lựa chọn hình thức đầu tư, mở tài khoản ngân hàng).
- Áp dụng pháp luật: Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành nhằm ban hành các quyết định pháp lý cá biệt (như cấp giấy chứng nhận đầu tư, thanh tra, xử lý vi phạm).
-
Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật:
Bảo đảm về chính trị (sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, duy trì ổn định chính trị - xã hội, định hướng nhất thể hóa môi trường pháp lý giữa đầu tư trong nước và nước ngoài); bảo đảm về pháp lý; bảo đảm về kinh tế - xã hội và bảo đảm về tổ chức, cán bộ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong Chương 2 để phân tích các khái niệm, đặc điểm, hình thức và điều kiện thực hiện pháp luật; Chương 3 để đánh giá thực trạng; Chương 4 để luận chứng các giải pháp.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Sử dụng tại Chương 3 để phân tích tiến trình hình thành và phát triển của hệ thống văn bản pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào qua các giai đoạn lịch sử gắn liền với công cuộc đổi mới.
- Phương pháp so sánh - thống kê: Sử dụng tại Chương 3 để đối chiếu số liệu đầu tư qua các năm (1986–2015), cơ cấu dự án, vốn đăng ký, đồng thời so sánh các quy định pháp luật của Lào với Việt Nam và các nước ASEAN nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Tư liệu nghiên cứu bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Hiến pháp CHDCND Lào; các văn bản luật về đầu tư của Lào (1988, 1994, 2009, 2011); Luật Đầu tư Việt Nam (1987, 1996, 2005, 2014); các báo cáo tổng kết của Ủy ban Quản lý Đầu tư Lào, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào; các hiệp ước quốc tế và hiệp định đa phương của ASEAN, WTO.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
Chương này tập trung điểm luận và phân loại toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia hệ thống tài liệu thành hai khu vực địa lý: các công trình tại Lào và các công trình tại Việt Nam, đồng thời chia tách thành các nhóm chủ đề: pháp luật về đầu tư nói chung; đầu tư nước ngoài; và thực hiện pháp luật đầu tư.
Từ việc phân tích tổng quan, tác giả rút ra kết luận: Các công trình trước đây đã làm rõ được nhiều khía cạnh về chính sách kinh tế, môi trường đầu tư và kỹ thuật lập pháp, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ chế thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật tại Lào. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định rõ các nhiệm vụ khoa học cần tiếp tục giải quyết về mặt lý luận (khái niệm, đặc điểm, 4 hình thức thực hiện pháp luật, các điều kiện bảo đảm) và thực tiễn (tiến trình phát triển văn bản, phân tích thực trạng thực hiện 4 hình thức pháp luật giai đoạn 1986–2015 và xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp đến năm 2020).
Chương 2: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Nội dung chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng:
- Phân tích bản chất của đầu tư và đầu tư nước ngoài, phân định rõ đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp.
- Xác lập khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; phân tích 4 nhóm nội dung điều chỉnh chủ yếu trong pháp luật Lào (chính sách bảo hộ không quốc hữu hóa; hai hình thức đầu tư gồm liên doanh góp vốn tối thiểu 30% và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; thẩm quyền quản lý của Ủy ban Đầu tư).
- Luận giải bản chất của thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài là quá trình chuyển hóa các quy định pháp lý thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể. Phân tích chi tiết 4 hình thức thực hiện pháp luật: tuân thủ, thi hành (chấp hành), sử dụng và áp dụng pháp luật đầu tư.
- Xác định vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài đối với việc thể chế hóa đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thu hút nguồn lực phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
- Phân tích các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh bảo đảm về chính trị: sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, duy trì ổn định chính trị - kinh tế vĩ mô và chủ trương thống nhất môi trường pháp lý cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài.
Chương 3: Quá trình hình thành phát triển pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Chương 3 trình bày lịch sử lập pháp và đánh giá thực trạng thực thi:
- Quá trình phát triển pháp luật: Phân tích các mốc phát triển chính sách từ năm 1986, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988 (đạo luật đầu tiên mở cửa cho đầu tư nước ngoài), Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài năm 1994 (mở rộng phạm vi và các biện pháp bảo hộ), đến Luật Khuyến khích đầu tư năm 2009 và các lần sửa đổi, bổ sung năm 2011 (hướng tới nhất thể hóa quy chế đầu tư trong nước và nước ngoài).
- Thực trạng thực hiện pháp luật giai đoạn 1986–2015:
- Đánh giá kết quả thu hút dự án FDI vào các ngành khai khoáng, thủy điện, nông nghiệp, dịch vụ và chế tạo.
- Đánh giá theo 4 hình thức thực hiện pháp luật:
- Tuân thủ pháp luật: Đại bộ phận nhà đầu tư tuân thủ quy định về đăng ký kinh doanh và an ninh quốc gia, tuy nhiên vẫn còn hiện tượng vi phạm về môi trường, khai thác tài nguyên vượt phép.
- Thi hành pháp luật: Việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, báo cáo tài chính và thực hiện chế độ bảo hiểm cho người lao động còn nhiều thiếu sót, tình trạng nợ thuế và chậm giải ngân vốn cam kết.
- Sử dụng pháp luật: Nhà đầu tư đã chủ động sử dụng các quyền ưu đãi đầu tư, quyền thuê đất, chuyển lợi nhuận; tuy nhiên việc sử dụng quyền khiếu nại hoặc giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại còn hạn chế do e ngại thủ tục.
- Áp dụng pháp luật: Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đã triển khai cấp phép, thanh tra, kiểm tra; tuy nhiên cơ chế "một cửa" vận hành chưa thông suốt, thủ tục cấp phép còn rườm rà, sự phối hợp giữa Ủy ban Đầu tư và chính quyền các tỉnh còn thiếu đồng bộ, năng lực cán bộ áp dụng pháp luật có mặt chưa đáp ứng yêu cầu.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay
Chương 4 đề xuất phương hướng hoàn thiện đến năm 2020:
- Quan điểm chỉ đạo: Quán triệt đường lối đổi mới kinh tế của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý tập trung của Nhà nước; kết hợp chặt chẽ giữa thu hút đầu tư với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với các cam kết ASEAN, WTO.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư: Rà soát, sửa đổi các quy định chồng chéo, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế và đất đai, quy định rõ quy trình giải quyết tranh chấp đầu tư.
- Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật: Kiện toàn bộ máy quản lý đầu tư từ trung ương đến địa phương; thực hiện cơ chế "một cửa, một đầu mối" thực chất; tăng cường phân cấp quản lý đi đôi với kiểm tra, giám sát.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đầu tư: Nâng cao ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật của cán bộ, doanh nghiệp và nhân dân; biên dịch và công khai văn bản pháp luật bằng các ngôn ngữ quốc tế.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đầu tư: Nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực ngoại ngữ và hiểu biết pháp luật quốc tế cho đội ngũ thực thi công vụ.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật đầu tư.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp khoa học mới về mặt lý luận
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
- Xây dựng và luận giải khái niệm, đặc điểm, nội dung điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào; phân tích chi tiết cơ cấu 4 hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ, thi hành, sử dụng, áp dụng) trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
- Luận chứng khoa học hệ thống các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong điều kiện hệ thống chính trị một đảng duy nhất lãnh đạo tại Lào.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào từ năm 1986 đến năm 2015, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của từng đạo luật (Luật 1988, 1994, 2009, 2011).
- Đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào trên cả 4 hình thức, chỉ rõ các tồn tại trong hoạt động quản lý nhà nước và việc chấp hành của các doanh nghiệp FDI.
- Đề xuất hệ thống quan điểm và các nhóm giải pháp đồng bộ (hoàn thiện lập pháp, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, đào tạo nhân lực, tăng cường thanh tra kiểm tra) nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào định hướng đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thời gian từ năm 1986 đến năm 2015, chủ yếu dựa trên hệ thống văn bản pháp luật và số liệu thực tiễn được thu thập tại Lào trong giai đoạn này. Các biến động pháp lý và kinh tế sau mốc thời gian bảo vệ (2016) cùng các số liệu thống kê chi tiết theo từng địa phương vùng sâu vùng xa chưa được bao quát toàn bộ do giới hạn về nguồn tư liệu công bố.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như RCEP) và việc sửa đổi các đạo luật đầu tư tiếp theo của Lào đối với hoạt động thực thi pháp luật.
- Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước (ISDS) tại các cơ quan trọng tài quốc tế đối với các dự án nhượng quyền khai thác tài nguyên tại Lào.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách tại Lào: Là tài liệu tham khảo cho Quốc hội Lào, Chính phủ Lào, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào, Ủy ban Quản lý Đầu tư trong việc rà soát, hoàn thiện pháp luật đầu tư và đổi mới quy trình áp dụng pháp luật "một cửa".
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Luật Kinh tế, Luật Đầu tư, Luật So sánh và Lịch sử nhà nước và pháp luật.
- Cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư: Cung cấp thông tin pháp lý hệ thống về quyền, nghĩa vụ, điều kiện chuyển vốn, tô nhượng đất đai và cơ chế bảo hộ đầu tư tại CHDCND Lào.
Câu hỏi thường gặp
1. Pháp luật CHDCND Lào quy định những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu nào và tỷ lệ góp vốn tối thiểu trong liên doanh là bao nhiêu?
Trả lời: Theo quy định pháp luật đầu tư của Lào, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư theo 2 hình thức: Doanh nghiệp liên doanh (thành lập giữa một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư Lào) và Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trong hình thức liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp tỷ lệ vốn tối thiểu là 30% tổng vốn đầu tư của liên doanh, được quy đổi sang đồng Kip Lào theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước Lào công bố tại thời điểm góp vốn.
2. Dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài gồm những hình thức nào?
Trả lời: Gồm 4 hình thức cơ bản: (1) Tuân thủ pháp luật (chủ thể kiềm chế không vi phạm các điều cấm); (2) Thi hành/chấp hành pháp luật (chủ thể chủ động thực hiện nghĩa vụ pháp lý như nộp thuế, bảo vệ môi trường); (3) Sử dụng pháp luật (chủ thể thực hiện quyền pháp lý được cho phép như xin cấp phép, khiếu nại, chuyển lợi nhuận); (4) Áp dụng pháp luật (cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định pháp lý cá biệt như cấp phép, xử phạt).
3. Quá trình phát triển pháp luật đầu tư nước ngoài của Lào đã trải qua các mốc văn bản luật chủ yếu nào?
Trả lời: Các mốc văn bản chính gồm: Các chính sách mở cửa đầu tiên từ năm 1987; Luật Đầu tư nước ngoài ban hành ngày 19/4/1988; Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài thông qua ngày 14/3/1994 (có hiệu lực tháng 6/1994); Luật Khuyến khích đầu tư ngày 08/7/2009 và được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp Quốc hội khóa VIII năm 2011.
4. Luận án chỉ ra những bất cập chủ yếu nào trong khâu thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào?
Trả lời: Các bất cập chính gồm: Một số chủ thể chưa nắm vững quy định pháp luật; công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thiếu thường xuyên; tình trạng chấp hành pháp luật của một số doanh nghiệp chưa nghiêm (về môi trường, nợ thuế); cơ chế áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý đôi lúc còn mang tính chủ quan, thủ tục hành chính còn rườm rà và cơ chế "một cửa" hoạt động chưa thực sự thông suốt.
5. Nhà đầu tư nước ngoài tại Lào được hưởng những quyền lợi cơ bản nào về cư trú và chuyển tài sản ra nước ngoài?
Trả lời: Nhà đầu tư nước ngoài cùng gia đình được cấp quyền cư trú tại Lào theo thời hạn đầu tư và được tạo điều kiện cấp visa xuất nhập cảnh nhiều lần (mỗi lần không quá 5 năm). Đồng thời, nhà đầu tư có quyền chuyển vốn, tài sản và thu nhập hợp pháp ra nước ngoài qua các ngân hàng tại Lào sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế và lệ phí theo luật định.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Norkeo Kommadam đã giải quyết một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào từ góc độ Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm rõ 4 hình thức thực hiện pháp luật và các điều kiện bảo đảm chính trị, pháp lý trong bối cảnh cụ thể của Lào. Đánh giá khách quan thực trạng lập pháp và áp dụng pháp luật giai đoạn 1986–2015, luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đầu tư nước ngoài của Lào trong tiến trình hội nhập quốc tế.