Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 1. Chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm 1. Đào tạo nghề Đào tạo nghề được hiểu là hoạt động trang bị những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học có thể tìm được việc làm phù hợp với bản thân hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Đạo tạo nghề có vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Theo quan điểm của nhiều người trong đó có tổ chức Liên hiệp quốc thì Việt Nam nước ta là một quốc gia có số lượng lao động trẻ cao. Chính vì vậy phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy, đào tạo nghề với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Cụ thể như sau: - Vai trò của giáo dục – đào tạo nghề nghiệp đối với chất lượng nguồn nhân lực xuất phát từ khía cạnh có lợi ích của con người. thông qua giáo dục và đào tạo mà người lao động có thể học tập rèn luyện để nâng cao được kiến hức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế. - Đào tạo nghề trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ.
Quá trình công nghiệp 9 hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và thể chế còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật này. Đây có thể nói là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi Chính phủ các nước phải đầu tư cho đào tạo nghề - Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: Áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng nghề cao. Hiện nay, trong tình hình nên kinh tế đang phát triển và lượng lao động dồi dào thì khả năng tìm kiếm việc làm gặp rất nhiều khó khăn và cản trở.
Việc đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng là một thử thách đối với người lao động. Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, thì nguồn nhân lực có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo ( nói cách khác, đó chính là năng lực thực hiện của nguồn nhân lực). Năng lực thực hiện này chỉ có thể có được thông qua giáo dục – đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc.
Tuy nhiên, ngay cả việc tích lũy kinh nghiệm này cũng phải dựa trên một nền tảng là giáo dục- đào tạo nghề nghiệp cơ bản. Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định của giáo dục- đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người. Đào tạo nghề là một hoạt động quan trọng góp phần đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp hay một tổ chức đơn vị sự nghiệp nào đó. Việc đào tạo giúp cho tổ chức có được nguồn nhân lực thích ứng với những thay đổi của môi trường và đáp ứng được những yêu cầu của việc thực hiện những 10 mục tiêu chiến lược của tổ chức.
Việc đào tạo nghề còn mang lại tính ổn định cho tổ chức sẽ bị rối loạn khi có những thay đổi về nhân sự hay thay đổi cơ cấu tổ chức, môi trường làm việc thì đều sẽ tác động đến doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc sử dụng những lao động có chất lượng giúp cho doanh nghiệp quản lý được những vấn đề nội bộ được nhanh chóng và thuận tiện hơn. Đồng thời còn mang lại nguồn nhân lực dự trữ chuẩn bị sẵn nguồn nhân lực có tay nghề, chuyên môn đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Cải tiến những chất lượng hiệu quả công việc và tăng khả năng thích ứng của nhân viên với công việc, của tổ chức với môi trường.
Đạt được những hiệu quả trong công tác kế hoạch nguồn nhân lực. Lao động nông thôn (đây chính là đối tượng đào tạo nghề nên không cần tách riêng vấn đề này) Lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lao động nông thôn là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động, tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, ngư nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ trong nông thôn.
Ở các nước đang phát triển, lao động ở khu vực nông thôn chủ yếu là lao động tạo ra thu nhập cho gia đình của mình tức thiếu sự trao đổi. Tuy nhiên vẫn tồn tại thị trường lao động làm thuê theo thời vụ trong nông nghiệp hoặc lao động tham gia các hoạt động phi nông nghiệp: buôn bán, ngành nghề thủ công và dịch vụ ở nông thôn. Tiền lương được xác định ở mức cân bằng 11 và thấp hơn mức cân bằng ở khu vực thành thị không chính thức. Người lao động chủ yếu làm việc trong kinh tế hộ gia đình, lao động tự làm là chính.
Mục đích làm việc là để góp phần cùng các thành viên khác trong gia đình tăng sản lượng (hoặc thu nhập). Quan hệ làm công ăn lương chưa phát triển. Cung lao động khu vực nông thôn co giãn nhiều vì khu vực này có tỷ lệ tăng dân số nhanh hơn so với khu vực thành thị. Cầu lao động lại ít co giãn vì cơ cấu sản xuất nông thôn chậm thay đổi, các nguồn lực cho sản xuất bị hạn chế.
Thị trường lao động ở khu vực nông thôn ở nước ta có những nét đặc trưng sau: + Là thị trường phôi thai, thể hiện: quan hệ thuê mướn lao động, quan hệ làm công ăn lương chưa phát triển. Sự thỏa thuận trong quan hệ thuê mướn lỏng lẻo, thường không có hợp đồng lao động, hình thức đổi công làm thuê theo công nhật, vụ việc là chính. + Quan hệ cung cầu lao động ở nông thôn thể hiện sự dư thừa lao động tiềm tàng cũng có nghĩa là ở tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng. + Thị trường lao động khu vực nông thôn phát triển ở trình độ thấp, thể hiện: tiền công (trả cho lao động phổ thông, lao động đại trà) trên thị trường rất thấp, tính cạnh tranh không cao; tính linh hoạt và thích ứng của lao động rất hạn chế.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT): Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động ở nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học nghề. Trong một số văn bản hiện nay, đào tạo nghề và dạy nghề được 12 đồng nhất với nhau. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động đào tạo với nhiều hình thức khác nhau: Đào tạo mới, đào tạo lại để làm tốt những việc đang làm hoặc để chuyển đổi nghề, chuyển đổi việc làm theo hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn do yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của sự nghiệp công nghiệp hóa, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình và phát triển bền vững.
Mục tiêu cuối cùng của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là có được nhân lực chất lượng cao để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa thủ công, tiểu thủ công và của những ngành nghề mới ở nông thôn. Những thương hiệu về cà phê, hạt điều, vải thiều, cá ba sa, hàng thủ công của đồng bào thiểu số.hiện đang được thế giới quan tâm và ưa chuộng không chỉ bởi là đặc sản đơn thuần, mà còn do hàm lượng trí tuệ trong đó nhờ người dân học tập thường xuyên mà có. Khu vực nông thôn chiếm khoảng 2/3 dân số và là lực lượng lao động chính ở nước ta. Lao động nông thôn chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.
Hằng năm, lao động nông thôn cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm cho cả nước. Tuy nhiên, trình độ của lao động nông thôn còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn mà nước ta đã đề ra. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là giải pháp và nhiệm vụ quan trọng cần làm ngay lúc này Đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ góp phần nâng cao chất lượng lao động, tạo ra cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người lap động. Chỉ cần có thêm kiến thức và hiểu biết về một ngành nghề nào đó thì lực lượng lao động nông thôn đã có thể tạo ra cho bản thân một con đường mới để phát triển bản thân, giúp ích cho gia đình.
Bên cạnh đó, khi lao động nông thôn được đào tạo bài bản thì sẽ thay đổi vị thế của nước ta hơn. Bởi lẽ, nước ta được biết đến là một nước nông 13 nghiệp. Nguồn thu nhập và sự phát triển của nước ta phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. Nếu trình độ của người lao động nông thôn được nâng cao, chất lượng làm việc đi lên thì vị trí của nước ta cũng sẽ được tăng cường.