phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Định. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm tôn giáo “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lƣợm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trƣớc đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô.
Bởi lẽ, đƣơng thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành - tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trƣớng của chủ nghĩa tƣ bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” đƣợc dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới. Có thể nói, tôn giáo là một hiện tƣợng hấp dẫn và chứa nhiều bí ẩn nhất trong đời sống con ngƣời và xã hội.
Tôn giáo có một sức sống kỳ lạ, hình thành, tồn tại và kéo dài đến thời đại khoa học và công nghệ ngày nay; tôn giáo có vai trò và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vậy, tôn giáo là gì? Trong lịch sử tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo. Các nhà thần học quan niệm tôn giáo là mối liên hệ của con ngƣời với Thƣợng đế, với thần linh, với cái tuyệt đối, với một lực lƣợng nào đó, với sự siêu việt hóa… Khái niệm mang dấu hiệu đặc trƣng của tôn giáo: Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên. Một số nhà tâm lý học lại cho rằng: Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chƣa từng cô đơn thì anh chƣa bao giờ có tôn giáo.
21 Kế thừa và vƣợt lên trên quan niệm của các nhà tƣ tƣởng đƣơng thời, Mác – Ăngghen đã đứng vững trên lập trƣờng duy vật lịch sử để lý giải vấn đề bản chất của tôn giáo. Theo đó ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nhƣng khác với những hình thái ý thức xã hội khác, sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực là sự phản ánh “lộn ngƣợc”, hoang đƣờng thế giới khách quan.Ăngghen “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người, của nhũng lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [17, tr. Xét về bản chất xã hội của tôn giáo, C.Mác cho rằng: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” [17, tr.Mác “…tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa.
Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược. Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lôgíc dưới hình thức phổ cập của nó, là vấn đề danh dự duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ” [17, tr.
Nhƣ vậy, tôn giáo là một một hệ thống quan niệm tín ngƣỡng, sùng bái một hay nhiều vị thần và những lễ nghi để thể hiện sự sùng bái ấy. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh một cách hoang đƣờng, hƣ ảo hiện thực khách quan. Qua sự phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí, những sức mạnh của thế gian đã trở thành sức mạnh siêu thế gian. 22 Theo quan niệm hiện đại, tôn giáo là trực giác về thế giới, là tổng số những chuẩn tắc đạo đức, là một loại hình ứng xử đƣợc chế định bởi niềm tin vào sự tồn tại của một thế giới khác, “siêu cảm tính” và của những thực thể “siêu cảm tính” – các thần linh, thánh nhân hay Thƣợng đế là những bậc đồng sáng tạo hay sáng tạo ra một cách hợp lý mọi hình thức tồn tại vật chất và tinh thần, cũng nhƣ là tổng thể những nghi lễ và những hành vi ma thuật (lễ nghi tôn giáo) là những cái đảm bảo mối liên hệ của con ngƣời với các lực lƣợng siêu nhiên, phù hợp với tổ chức và sự hợp nhất của tín đồ [24, tr.
Quan niệm khác cho rằng tôn giáo là một nổ lực của con ngƣời để hiểu cái không thể hiểu đƣợc, để diễn đạt cái không thể diễn đạt đƣợc, một khát vọng hƣớng tới cái vô tận… Hay tôn giáo là một loại giải thích về ý nghĩa tột cùng của đời sống, là sự quan tâm của con ngƣời đến cái vô cùng không giới hạn… Tôn giáo là sản phẩm bản năng, một phản ứng đặc biệt của cơ thể con ngƣời với thế giới xung quanh… Ở một giai đoạn lịch sử nhất định thì sự nhận thức của con ngƣời về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Khoa học luôn tìm hiểu, khám phá ra những điều mà nhân loại chƣa biết, vận dụng các tri thức đã biết để tiếp tục nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con ngƣời ngày một tiến bộ hơn. Song, ở thời kỳ lịch sử cụ thể nào đó thì khoảng cách giữa “biết” và “chƣa biết” vẫn tồn tại, điều gì mà khoa học chƣa giải thích đƣợc thì điều đó thƣờng chỉ đƣợc giải thích một cách hƣ ảo qua các tôn giáo.Lênin đã phân tích: “Sự sợ hãi đã tạo ra thần linh”. Sợ hãi trƣớc thế lực mù quáng của tƣ bản – mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trƣớc đƣợc nó, là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của ngƣời vô sản và ngƣời tiểu chủ, cũng đe doạ đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một ngƣời ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại.
23 Mỗi một nhà tƣ tƣởng lớn (thế tục hay tôn giáo) thƣờng đƣa ra định nghĩa của mình, khác với các định nghĩa khác về tôn giáo. Điều này là do sự khác nhau về bối cảnh xã hội và văn hóa chung quy định, các tôn giáo phát triển bao giờ cũng đƣa ra lý giải về nguồn gốc của mình khác với sự lý giải thế tục, dẫn đến sự đối đầu giữa những ngƣời bảo vệ ý thức tôn giáo và những ngƣời bảo vệ ý thức thế tục, tất yếu nảy sinh nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Có thể hiểu một cách khái quát, tôn giáo là niềm tin vào các lực lƣợng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hƣ ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng nhƣ ở thế giới bên kia. Niềm tin đó đƣợc biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, đƣợc vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lƣợng siêu nhiên, cho rằng có những lực lƣợng siêu nhiên quyết định số phận của con ngƣời, con ngƣời phải phục tùng và tôn thờ [50]. Luật tín ngƣỡng, tôn giáo 2016 khẳng định tôn giáo là niềm tin của con ngƣời tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tƣợng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức [4, tr. Khái niệm tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, hoạt động tôn giáo - Khái niệm tổ chức tôn giáo: Cùng với sự phát triển của các hình thức cộng đồng và các quan hệ xã hội, tôn giáo cũng hoàn thiện và phát triển về quy mô, tổ chức, tín đồ, cơ sở tôn giáo… Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo đƣợc tổ chức theo một cơ cấu nhất định đƣợc Nhà nƣớc 24 công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [4, tr. Tại Điều 21 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 quy định: Tổ chức đã đƣợc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đƣợc công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: 1.
Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày đƣợc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; 2. Có hiến chƣơng theo quy định tại Điều 23 của Luật này; 3. Ngƣời đại diện, ngƣời lãnh đạo tổ chức là công dân Việt Nam thƣờng trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngƣỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là ngƣời đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; 4. Có cơ cấu tổ chức theo hiến chƣơng; 5.
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; 6.