Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng tại Ủy ban nhân dân quận Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng tại Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng tại Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THI ĐUA, KHEN THƢỞNG TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Chính sách thi đua, khen thƣởng 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về thi đua, khen thưởng - Thi đua Thi đua là gì? có thể được hiểu đơn giản về ngữ nghĩa của câu nói, chữ viết tiếng Việt: thi đua là cùng nhau cố gắng làm, cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ra làm nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt được những kết quả, thành tích tốt nhất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống XH như trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, trong công tác, trong học tập và kể cả trong sinh hoạt, đời sống hàng ngày của một cộng đồng người.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận thi đua theo phương pháp luận duy vật biện chứng thì lại không hoàn toàn đúng như vậy. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Thi đua là một hiện tượng khách quan nảy sinh từ sự tiếp xúc xã hội trong quá trình lao động sản xuất. Thi đua phát triển trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo ra môi trường cho sự phát triển của thi đua và sự nâng cao nghị lực, thúc đẩy tinh thần cạnh tranh và sự phấn đấu tăng cao trong mỗi người (C.
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, cạnh tranh được coi là một hình thức, được sử dụng để che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản và thậm chí làm giảm động lực của sự phát triển; ngược lại ở chế độ XHCN, thi đua có tính quần chúng, là một quá trình công khai và là động lực để thúc đẩy sự phát triển KT-XH (V. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào đường lối chính trị và phương pháp cách mạng, khái quát về vai trò, vị trí và ý nghĩa của thi đua, cho rằng thi đua là biểu hiện của tình yêu nước và những người thi đua là những người yêu nước nhất (Hồ Chí Minh, 2011). Những quan điểm của Bác về thi đua rất toàn diện, dễ hiểu, dễ thực hiện: Là người Việt Nam yêu nước thì phải thi đua, thi đua là yêu nước; thi đua trong công việc hàng ngày và mọi người phải thi đua; thi đua phải có phương pháp, tinh thần và kết quả; thi đua phải có kế 7 hoạch cụ thể, thiết thực và tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn; đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước. Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua như đã trình bày trên đây trở thành kim chỉ nam cho việc định hướng công tác thi đua, khen thưởng của Đảng, Nhà nước ta trong mọi thời kỳ cách mạng cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Từ cách tiếp cận pháp luật về TĐKT, tại Khoản 1, Điều 3 Luật TĐKT năm 2022 giải thích từ ngữ “thi đua” như sau: “Thi đua là hoạt động có tổ chức do người có thẩm quyền phát động với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể, hộ gia đình”. Tác giả nhận thấy nội dung này đã chứa đựng đầy đủ những cấu phần quan trọng nhất của khái niệm “thi đua”; do đó tác giả sử dụng định nghĩa về “thi đua” theo Luật TĐKT năm 2022 vì nhận thấy định nghĩa này là phù hợp nhất trong khuôn khổ nội dung của khóa luận này (cả định nghĩa về “khen thưởng” sau này cũng vậy). - Khen thưởng Khác với thi đua chỉ tồn tại trong chế độ XHCN, khen thưởng gắn liền với quá trình tồn tại của nhà nước trong mọi chế độ và mọi thời đại. Có thể hiểu nghĩa theo tiếng Việt, “khen” là nói lên sự đánh giá tốt về ai, về cái gì, việc gì với ý vừa lòng, “thưởng” là cho tiền, hiện vật để tỏ ý khen ngợi và khuyến khích vì đã có công, có việc làm tốt.
Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đều rất coi trọng việc khen thưởng, coi đó là động lực to lớn để động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân đoàn kết chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Ví dụ như: Khen thưởng người có công trong việc đi sứ. Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức. Khen thưởng người tiến cử người hiền tài.
Khen thưởng người có lời tâu đúng. Khen thưởng người có công làm thủy lợi. Khen thưởng người có tài văn chương. Khen thưởng người cao tuổi.
Đánh giá về vai trò của khen thưởng, Nguyễn Trãi đã viết: Nhà nước mà thưởng nhiều hơn phạt là nhà nước phồn vinh… Nhà nước phạt nhiều hơn thưởng là nhà nước suy tàn. Kế thừa tinh thần của người xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặc biệt quan tâm đến công tác khen thưởng. Bác quan niệm rất đơn giản rằng, đã có thi đua thì phải có khen thưởng. Ngày 26/01/1946, với tư cách là Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác đã ký, ban hành “Quốc lệnh quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt” với nội dung sau: “Trong một nước thưởng phạt phải 8 nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.
Vậy Chính phủ ra Quốc lệnh rõ ràng gồm có 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm”. Sau này, Bác còn ban hành chỉ thị “Có công thì thưởng, có lỗi thì phạt, khen thưởng phải có tác dụng giáo dục, động viên, nêu gương. Từ cách tiếp cận pháp luật về TĐKT, tại Khoản 3, Điều 3 Luật TĐKT năm 2022 giải thích từ ngữ “khen thưởng” như sau: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Khái niệm về chính sách, chính sách công, thực thi chính sách công - Chính sách Cho đến nay đã có nhiều quan niệm về chính sách: CS là một tập hợp hành động và quyết định được lựa chọn có mục đích của người quản lý.
CS là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, được đưa ra bởi một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý, tạo ra sự ưu đãi cho một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội (Vũ Cao Đàm, 2011). CS là những hướng dẫn, phương pháp, thủ tục, luật lệ, biểu mẫu cụ thể và những công việc hành chính được thiết lập để hỗ trợ và thúc đẩy công việc hướng tới các mục tiêu đề ra (Hoàng Lê Khánh Linh, 2024). Vậy “chính sách” là gì? Tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 34/2016/NĐ-CP, ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đã giải thích từ ngữ “chính sách” là: Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Tác giả sử dụng định nghĩa này vì đã thể hiện rõ bản chất của chính sách, được nêu ra trong văn bản pháp luật, phù hợp với đối tượng nghiên cứu khóa luận.
- Chính sách công Trên thực tế, đã có nhiều quan niệm khác nhau về CSC: CSC là một tập hợp các quyết định khác nhau có liên quan đến nhau trong một khoảng thời gian dài, do các nhà chính trị trong bộ máy nhà nước ban hành, nhằm theo đuổi các mục tiêu nhất định 9 thông qua các giải pháp cụ thể. CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân, mang tính định hướng phát triển lâu dài, rộng khắp đến toàn XH và có tính bắt buộc thi hành. Từ những quan niệm trên, có thể hiểu về khái niệm CSC như sau: CSC là CS của nhà nước, là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau của chính quyền về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó trên cơ sở quyền lực pháp lý, chính trị và nguồn lực của nhà nước. Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có văn bản PL nào giải thích chính sách công (viết tắt là: CSC) là gì.
Trong suốt thời gian dài trước đổi mới, khi toàn bộ nền kinh tế đất nước được vận hành theo chế độ quan liêu bao cấp, việc điều hành các lĩnh vực hoạt động đất nước nói chung cũng như từng lĩnh vực cụ thể như kinh tế không phải dựa trên các CS mà dựa trên chỉ thị, quyết định mang tính mệnh lệnh. Công cụ điều hành các lĩnh vực phát triển KT-XH của đất nước thường mang tính chủ quan, duy ý chí, nóng vội, bỏ qua các yếu tố giai đoạn lịch sử cũng như các căn cứ thực tiễn khách quan. Trong bối cảnh đó, CSC với hàm ý sâu xa của nó là lựa chọn phương án hành động, nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn trên cơ sở phân tích đánh giá khách quan, khoa học các yếu tố thực tiễn cũng như các yếu tố điều kiện bảo đảm chưa được quan tâm, chú trọng và đặt đúng vào vị trí như công cụ điều hành của nhà nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, với yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết xác định và phân định rõ vai trò quản lý và điều hành của nhà nước và tạo lập môi trường PL, CS cho sự vận hành phù hợp của các thành phần kinh tế nói riêng cũng như các chủ thể khác nhau trong mọi lĩnh vực phát triển của đất nước; tách bạch vai trò điều hành của nhà nước với vai trò thực thi của các chủ thể khác chính là để giải quyết được mối quan hệ quan trọng giữa nhà nước với thị trường và xã hội; tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước trong việc ban hành các CS đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, của các chủ thể khác trong xã hội, bảo vệ quyền công dân và quyền con người.