Chương 1: Những vấn đề lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất và lý luận pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất. Chương 2: Thực trạng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn thực thi tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.
Những vấn đề lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất 1. Khái niệm thừa kế Mỗi một con người sinh ra, tồn tại và lớn lên đều phải lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống và phục vụ cho chính nhu cầu của bản thân mình, sau đó là tích lũy để phòng cho những giai đoạn khó khăn do thiên tai địch họa hoặc do sức khỏe không còn đủ khả năng lao động. Đồng thời cùng là chính, nguồn vốn mà những ông bà, cha mẹ để lại cho con cháu mình. Với những thành quả lao động do chính bàn tay, khối óc và trao đổi của mỗi con người tạo ra thì họ có toàn quyền quyết định về các tài sản đó.
Với những sự phát triển về thông thương hàng hóa ngày càng mở rộng và đa dạng thì các tài sản đó được chủ sở hữu toàn quyền thực hiện các quá trao đổi, chuyển nhượng hoặc tặng cho người khác. Các tài sản đó đã được định đoạt từ khi chủ sở hữu, sử dụng còn sống nên sau khi họ chết đi vẫn được cộng đồng xã hội thừa nhận và tôn trọng thực hiện, điều đó đã làm xuất hiện khái niệm về thừa kế. Trong quá trình phát triển xã hội loài người thì thừa kế xuất hiện khá sớm và được các thành viên liên quan tôn trọng, tự nguyện thực hiện, kể cả khi chưa có nhà nước và pháp luật. Trình độ nhận thức của con người ngày càng phát triển, cùng với đó là nhà nước đã ban hành các quy định về pháp luật để thống nhất quan hệ giữa người chết để lại tài sản cho những người còn sống phụ thuộc vào mối quan hệ huyết thống giữa những người này.
Do đó, chính là sự dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang cho người còn sống tại thời điểm mở thừa kế, với mối quan hệ cận huyết thống như vợ chồng, cha, mẹ, con, anh chị em, cháu,. hoặc theo di nguyện từ khi còn minh mẫn của người chết được gọi là thừa kế. Pháp luật ra đời gắn liền với mỗi chế độ chính của của các hình thái nhà nước khác nhau cũng đã tác động không nhỏ đến các quan hệ pháp luật về thừa kế. Pháp luật quy định vè quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể đồng thời cũng có chế tài để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực thi hiệu quả.
9 Căn cứ vào quy định về quyền thừa kế, cá nhân có quyền để lại di sản thừa kế của mình cho người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc1. Nhà nước đề cao và tôn trọng quyền sở hữu của mỗi cá nhân. Vì vậy, từ văn bản pháp luật cao nhất của nhà nước cũng quy định đến vấn đề này và bảo vệ quyền sở hữu của mọi cá nhân. Dù bất cứ ai, bằng thực lực của mình để tạo nên khối tài sản nhất định nào đó thì đều có quyền sở hữu pháp luật cũng dành cho họ quyền định đoạt đối với các tài sản này.
Chủ sở hữu tài sản có thể chết đi, những những tài sản do họ tạo ra vẫn còn tồn tại, nên theo quy định của pháp luật hay theo phong tục tập quản thì các tài sản đó đương nhiên được chuyển giao lại cho những người còn sống vào thời điểm mở thừa kế theo diện và hang thừa kế. Để bảo đảm một trật tự ổn định trong xã hội việc duy trì và phát triển các tài sản, đồng thời để đảm bảo việc thừa kế tài sản của người chết cho những người còn sống theo di chúc của người có tài sản hoặc thừa kế tài sản theo pháp luật thì các tài sản đó phải còn tồn tại và chủ tài sản vẫn còn quyền sở hữu. Pháp luật bảo vệ quyền sở hữu cũng chính là bảo vệ sự tồn tại thực chất của các tài sản trong xã hội, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế của mỗi cá nhân cũng như của xã hội. Chế định về thừa kế được ghi nhận ở những mức độ khác nhau, có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội cũng như tình hình kinh tế chung.
Mỗi một hình thái nhà nước khác nhau thì kiến trúc thượng tầng trong xã hội cũng như trình độ lập pháp, ý chí của giai cấp thống trị cũng tác động rất lớn đến pháp luật thừa kế. Đồng thời ở mỗi vùng miền với phong tục tập quán, truyền thống khác nhau, trình độ nhận thức, dân trí khác nhau cũng tác động không nhỏ đến việc áp dụng pháp luật thừa kế. Mỗi bản Hiến pháp của nhà nước ta ra đời ở các giai đoạn chính trị, kinh tế khác nhau, nhưng Nhà nước đều thể hiện sự tôn trọng quyền dân sự cơ bản của công dân. Căn cứ vào đó các văn bản pháp luật chuyên ngành khác triển khai, quy định chi tiết, cụ thế hóa quyền thừa kế của mọi người dân.
Văn bản pháp luật cao nhất của nước ta quy định như sau: “Quyền sở hữu tư nhân 1. Điều 609 Bộ luật Dân sự. 10 và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”2. Việc bảo hộ này đã được cụ thể hóa trong Luật Đất đai 2013, BLDS năm 2015 và các luật liên quan khác.
Những quy định về quyền sử dụng đất 1. Sự hình thành về khái niệm quyền sử dụng đất Đối với bất cừ hành thái nhà nước và thể chế chính trị nào trong lịch sử nước ta thì đánh giá rất cao gần như tuyệt đối về giá trị của đất đai. Từ xác định QSDĐ đai để khẳng định chủ quyền, sự thống lĩnh, sự định đoạt đối với tài sản này và con người sinh sống trên đó. Trước đây, các tổ chức, cá nhân được sử dụng đất với hạn mức và quyền khai thác hạn chế.
Do tình hình kinh tế phất triển, nhận thức, tư duy thay đổi, nhà nước đã dần trao quyền mở rộng phạm vi sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên là đất đai cho người dân: Đất đai thuộc thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau nên cũng có cách nhìn nhận đánh giá khác nhau: Dưới góc độ là một chế định pháp luật đất đai: Dưới góc độ này thì pháp luật về QSDĐ là tổng thể các quy định của pháp luật được các cơ quan có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ chung nhất, tổng hợp nhất giữa người quản lý đất đai và người sử dụng đất đai. Dưới dóc độ là một quan hệ pháp luật dân sự: Dưới góc độ này thì QSDĐ được xem xét như sau: + Quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu (Nhà nước) với người sử dụng đất được thể hiện trong mối quan hệ giữa các quyền: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt QSDĐ Quyền của chủ sở hữu đối với đất đai là quyền mang tính tuyệt đối có đầy đủ cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Còn QSDĐ của người sử dụng đất chỉ là quyền phái sinh chịu sự lệ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai, người sử dụng đất chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng còn không có quyền định đoạt; + Khi thực hiện các giao dịch dân sự như tặng cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế,… QSDĐ, thì đây là những quy định được áp dụng cho những người sử dụng đất.
Điều 32 Hiến pháp năm 2013. 11 + Thực hiện các quyết định trong việc: giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất… là việc thực hiện chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước đối với những người dân có nhu cầu hoặc đủ điều kiện khi đang sử dụng đất. Dưới góc độ này, nhà nước ban hành các quy định để các bên tham gia vào giao dịch này là quy định chung cho tất cả các bên. Bất cứ người dân khi có nhu cầu, có đủ điều kiện theo quy định thì có thể tự nguyện thực hiện theo trình tự, thủ tục đã ban hành.
Dưới góc độ thực hiện quyền năng của đại diện chủ sở hữu và người sử dụng đất: Do đất đai thuộc thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nên Nhà nước chỉ ban hành các quy định bằng các văn bản pháp luật thực hiện quyền quản lý đất đai. Quyền năng của nhà nước là tuyệt đối trong ba quyền: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Còn người sử dụng đất chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng. Thông qua các văn bản pháp luật cụ thể, nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức thay mặt mình để giám sát quản lý.
Đối với người sử dụng đất được quyền sử dụng, khai thác đất đai thì cũng phải làm các nghĩa vụ như nộp thuế, nộp tiền thuê đất; thuế chuyển nhượng QSDĐ,… và thực hiện việc đăng ký QSDĐ; đăng ký biến động đất đai,… đối với cơ quan quản lý đất đai. Khi người dân đã được nhà nước công nhận QSDĐ (bằng cách cấp GCNQSDĐ) thì người dân được thực hiện quyền tặng cho, chuyển nhượng, thừa kế,. và được nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất. Ngược lại, người dân thực hiện không đúng mục đích sử dụng đất, vi phạm các quy định về quản lý đất đai thì bị phạt hoặc bị thu hồi.
Khi nhà nước cần sử dụng đất để phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia thì bất cứ người dân nào cũng phải tuân thủ khi có quyết định thu hồi đất, nếu không chấp hành thì bị nhà nước cưỡng chế thì hành. Dưới góc độ là một tài sản đặc biệt thì QSDĐ được đánh giá như sau: Có những giai đoạn nhà nước đã coi đất đai là tài sản đặc biệt thuộc quyền sở hữu của nhà nước, vì thế người sử dụng đất không có quyền thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến QSDĐ. Theo quy định của pháp luật hiện nay thì thay đổi nhận thức, nhà nước đã cho toàn dân được sở hữu, nhà nước chỉ thay mặt chủ sở hữu để thống nhất quản lý.