Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỬ VIỆC 1. Lý luận về thử việc 1. Khái niệm thử việc Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, lao động là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Lao động giúp con người tạo nên giá trị bản thân, góp phần lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội.
Thị trường lao động, việc làm đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển. Trong quá trình hội nhập quốc tế, khi lĩnh vực lao động ngày càng phát triển thì pháp luật lao động cùng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Pháp luật lao động điều chỉnh, ổn định các mối quan hệ được hình thành trong quá trình tổ chức và sử dụng lao động; giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Để mở rộng nguồn lao động, NSDLĐ thông qua việc tuyển dụng nhằm tìm kiếm các nguồn nhân lực phù hợp với các vị trí yêu cầu.
Khi NSDLĐ và NLĐ tham gia QHLĐ thường đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi nhất định, tuy nhiên, tại giai đoạn tuyển dụng, cả 02 bên ít có cơ hội để biết rõ về nhau nếu chỉ thông qua cuộc phỏng vấn. Vì vậy, trước khi NSDLĐ và NLĐ tiến đến giao kết mối QHLĐ chính thức để thực hiện quyền và nghĩa vụ đầy đủ của các bên theo quy định của BLLĐ, NLĐ có thể cần phải trải qua quá trình làm thử công việc được giao. Trong thời gian làm thử này, NSDLĐ và NLĐ có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên. Đây là khoảng thời gian để NSDLĐ có thể đánh giá năng lực, thái độ làm việc của NLĐ nhằm xem xét họ có thể đáp ứng được các điều kiện công việc.
Đồng thời cũng là thời gian NLĐ dần làm quen với công việc được tuyển dụng và xem xét công việc có phù hợp với bản thân hay không để quyết định gắn bó lâu dài. Quan hệ thử việc giữa NSDLĐ và NLĐ được xác định bằng hình thức hợp đồng thử việc hoặc như là một thoả thuận trong HĐLĐ. Vì vậy, cả hai bên xem thử việc như một nhu cầu tất yếu trước khi chính thức xác lập QHLĐ với nhau. 8 Qua nghiên cứu cho thấy, trên thế giới, chế độ thử việc được hình thành vào thời gian khá sớm.
Trong lịch sử, Ý, Hy Lạp, Bồ Đào Nha là các nước đã đi tiên phong trong vấn đề giao kết thử việc bằng cách thiết lập thời lượng tối đa của giai đoạn thử việc (Ý - 1910s, Hy Lạp - 1920s, Bồ Đào Nha - 1960s). Đáng chú ý là ở hai quốc gia đầu tiên là Ý và Hy Lạp, các quy định về thiết lập thời lượng tối đa của giai đoạn thử việc này đã đi đôi với việc điều chỉnh hợp đồng tạm thời. Ở Tây Ban Nha, Pháp và Anh, các quy định về thời gian thử việc đã xuất hiện ở giai đoạn muộn hơn nhiều (Tây Ban Nha - 1970s, Pháp - 2010, Anh - 2010)1. Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, thời gian thử việc hoặc thử việc là khoảng thời gian làm việc tối thiểu mà trong thời gian đó NLĐ không được bảo vệ đầy đủ theo luật bảo vệ việc làm2.
Trên thế giới hiện nay, đa số các BLLĐ đều có đề cập đến thử việc trong HĐLĐ nhưng lại không có định nghĩa cụ thể thử việc là gì. Trong một số hệ thống pháp luật tại các nước, chẳng hạn như của Vương quốc Anh, có đề cập đến khái niệm về thời gian "đủ điều kiện" để yêu cầu quyền lợi của NLĐ chính thức theo luật, nghĩa là, một NLĐ phải làm việc cho một NSDLĐ trong một thời gian tối thiểu trước khi người đó đủ điều kiện để có quyền yêu cầu quyền lợi chính đáng của NLĐ chính thức tại tòa án3. Ở Trung Quốc, thử việc được quy định tại Luật Lao động của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, không có quy định về khái niệm thử việc mà chỉ để cập đến thời gian thử việc4. Ở Nhật bản, thử việc được quy định tại Luật tiêu chuẩn Lao động5, quy định bất kỳ HĐLĐ nào cũng có thể quy định thời gian thử việc khi bắt đầu 1 Mariya Aleksynska, Alexandra Schmidt (2014), “A chronology of employment protection legistation in some selected European coutrles”, Conditions of Work and Employment, Series No.org/wcmsp5/groups/public/---ed_protect/---protrav/--- travail/documents/publication/wcms_324647.pdf, truy cập ngày 25/3/2023.org/probationary-trial-period/truy cập ngày 25/3/2023 3 Mariya Aleksynska, Alexandra Schmidt (2014), “A chronology of employment protection legistation in some selected European coutrles”, Conditions of Work and Employment, Series No.org/wcmsp5/groups/public/---ed_protect/---protrav/--- travail/documents/publication/wcms_324647.pdf, truy cập ngày 25/3/2023.cn/zgrdw/englishnpc/Law/2007-12/12/content_1383754.htm, truy cập ngày 25/3/2023 5 https://www.org/dyn/natlex/docs/WEBTEXT/27776/64846/E95JPN01.htm, truy cập ngày 25/3/2023.
Ở Nga, tại BLLĐ Liên bang Nga7, không đưa ra khái niệm cụ thể về thử việc, chỉ nêu quy định khi ký kết HĐLĐ, việc thử việc có thể được quy định theo thỏa thuận của các bên nhằm mục đích kiểm tra sự phù hợp của NLĐ đối với công việc được giao. Điều kiện thử việc phải được ghi rõ trong HĐLĐ. Trong thời gian thử việc, tất cả các quy định của luật lao động và thỏa ước tập thể tương ứng được áp dụng cho NLĐ có liên quan. Tại Việt Nam, khái niệm về thử việc ở góc độ ngôn ngữ, trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thử” là làm như thật hoặc chỉ dùng một ít hay trong thời gian ngắn, để qua đó xác định tính chất, chất lượng đối chiếu với yêu cầu hoặc làm một việc nào đó để xem kết quả ra sao, “việc” là cái phải làm, nói về mặt công sức phải bỏ ra hoặc cái làm hằng ngày theo nghề và được trả công8.
Trong từ điển Cambridge, thử việc (probation) được giải thích là khoảng thời gian bắt đầu công việc mới khi NLĐ được theo dõi và kiểm tra để xem liệu họ có phù hợp hay không. Có thể hiểu “thử việc” là việc làm thử một công việc trong một thời gian ngắn để xem kết quả sẽ ra sao có phù hợp với yêu cầu.9 Theo từ điển Luật học, “Thử việc là một dạng của chế độ giao kết HĐLĐ trước khi HĐLĐ chính thức có hiệu lực. Nội dung, thời gian, quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian thử việc do các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận” 10. Theo đó, thử việc là giai đoạn xảy ra trước khi NSDLĐ và NLĐ bắt đầu mối QHLĐ chính thức nhằm giúp cho các bên chủ thể tiến đến mối QHLĐ bền vững và gắn bó lâu dài11.org/ifpdial/information-resources/national-labour-law-profiles/WCMS_158904/lang-- en/index.htm, truy cập ngày 25/3/2023.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/wtaccrus58_leg_363.pdf, truy cập ngày 25/3/2023 8 Hoàng Phê (2021), Từ điển Tiếng Việt, NXB.
Hồng Đức, tr.org/dictionary/english/probation, truy cập ngày 30/3/2023. 10 Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. 11 Đào Mộng Điệp (2021), Bình luận khoa học một số nội dung cơ bản của Bộ luật Lao động 2019, Nxb.Công an Nhân dân Hà Nội, tr. 10 Theo quy định tại BLLĐ 2012 và BLLĐ 2019, thử việc được hình thành trên sự thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, không phải là một nội dung thực hiện bắt buộc.
Khái niệm về thử việc trong pháp luật Lao động Việt Nam chưa được quy định cụ thể trong BLLĐ 2019. Về vấn đề thử việc, tại khoản 1 Điều 24 BLLĐ 2019 chỉ quy định “Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong HĐLĐ hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc”. Như vậy, thử việc có thể được hiểu là là sự thỏa thuận tự nguyện giữa NSDLĐ và NLĐ về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của 2 bên trong thời gian thử việc trước khi giao kết HĐLĐ chính thức. Tại BLLĐ 2019, đã ghi nhận rõ hơn về vấn đề nội dung thử việc có thể được ghi trong HĐLĐ hoặc hợp đồng thử việc12, thay vì chỉ ghi nhận “thỏa thuận thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc” như trong BLLĐ 2012.
Đặc điểm của thử việc Bản chất của thử việc là sự thỏa thuận tự nguyện giữa NSDLĐ và NLĐ được xác lập trong một thời gian ngắn, nhằm tạo tiền đề cho việc xác lập QHLĐ lâu dài và ổn định. Vì vậy, thử việc có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, thỏa thuận thử việc được thực hiện vào thời điểm trước khi xác lập một QHLĐ chính thức Thử việc được xem như là một dạng tiền QHLĐ, được xác lập tại giai đoạn trước khi NSDLĐ và NLĐ tiến đến mối QHLĐ chính thức có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo BLLĐ đã quy định. Thử việc là làm thử một công việc, vì vậy tại giai đoạn này, NSDLĐ có thời gian kiểm tra trình độ, chuyên môn và thái độ của NLĐ và NLĐ cũng có thể tìm hiểu về công việc, điều kiện lao động, môi trường làm việc. Giai đoạn thử việc là thời điểm mà NSDLĐ và NLĐ bắt đầu quá trình tìm hiểu, nhận xét đánh giá về đối phương, 12 Khoản 1 Điều 24 Bộ Luật Lao động 2019.
11 vì vậy, thời điểm xác lập quan hệ thử việc cũng là đặc điểm để phân biệt với các QHLĐ khác. Các bên có thể chủ động tìm hiểu về nhau và đưa ra quyết định cho việc có thực hiện giao kết HĐLĐ chính thức hay không. Theo tác giả, điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện tại khi mà NLĐ và NSDLĐ vẫn chưa hiểu về nhau và cần có một thời gian để đôi bên có thể từ từ tìm hiểu mà vẫn không ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài của cả hai. Cụ thể, NLĐ nếu cảm thấy môi trường làm việc hoặc công việc không phù hợp thì có thể chấm dứt thử việc mà không cần phải thực hiện thời gian báo trước.
Còn NSDLĐ nếu nhận thấy NLĐ không thích hợp với công việc hiện tại hoặc thái độ làm việc không đúng đắn thì cũng có thể kết thúc quá trình thử việc ngay lập tức, không cần phải báo trước giúp cho NSDLĐ tiết kiệm được chi phí và không ảnh hưởng lâu dài đến tình hình hoạt động của tổ chức. Thứ hai, quá trình thử việc mang bản chất là “thử” Trong thời gian thử việc thì NSDLĐ sẽ yêu cầu NLĐ thực hiện làm thử các công việc mà khi NLĐ được tuyển dụng chính thức sẽ phụ trách. Đây là đặc điểm để phân biệt quan hệ thử việc với QHLĐ khác. NLĐ thực hiện làm thử các công việc dưới sự giám sát, đánh giá để NSDLĐ có thể biết được NLĐ có phù hợp với yêu cầu công việc khi bắt đầu vào thực hiện các công tác chuyên môn một cách chính thức, để từ đó đưa ra quyết định giao kết QHLĐ chính thức hay không.