Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam tại Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc quy định chế định này là bước đi cụ thể hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh yêu cầu: "đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội". Mặc dù mang tính nhân đạo sâu sắc, tạo cơ hội cho người chấp hành án phạt tù sớm tái hòa nhập cộng đồng, song để chuyển hóa một quy phạm pháp luật nội dung thành hiện thực đòi hỏi phải có một quy trình tố tụng chặt chẽ. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chính là cơ chế pháp lý vận hành chế định này.

Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn áp dụng từ năm 2018 đến năm 2022 nảy sinh nhiều vướng mắc nghiêm trọng xuất phát từ sự thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Cùng điều chỉnh về thủ tục này hiện có nhiều văn bản song song có hiệu lực như Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, Thông tư số 12/2018/TT-BCA và Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP. Sự xung đột giữa các văn bản dẫn đến cách hiểu và áp dụng thiếu nhất quán giữa các Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Thêm vào đó, quy trình tố tụng hiện hành còn bộc lộ nhiều khoảng trống: thiếu quy định cụ thể về sự tham gia của Viện kiểm sát trong phiên họp xét hủy quyết định tha tù; mâu thuẫn về thời điểm có hiệu lực của quyết định tha tù và mốc thời gian bắt đầu tính thời gian thử thách; thiếu sót trong hệ thống biểu mẫu ban hành kèm Công văn số 160/TANDTC-PC; chưa có quy trình chặt chẽ để giải quyết quyền khiếu nại của phạm nhân. Xuất phát từ những bất cập đó, khóa luận xác định việc nghiên cứu hoàn thiện thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện là yêu cầu mang tính cấp bách.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời xác định những bất cập và vướng mắc trong quy định và thực tiễn thực hiện, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này.

Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tập trung nghiên cứu những vấn đề về lý luận, quy định pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện.
  2. Phân tích, đánh giá những thống kê, báo cáo, các tình huống, vụ việc thực tiễn nhằm làm rõ những kết quả đã đạt được, cũng như những vấn đề còn vướng mắc.
  3. Xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài xoay quanh những vấn đề về lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết giữa các cấp Tòa án có thẩm quyền trong quá trình thi hành thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Khóa luận tập trung phân tích chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và các văn bản liên quan, khu biệt vào 3 nhóm vấn đề: (1) Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định tại Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; (2) Quyền khiếu nại của phạm nhân đối với các quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; (3) Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát theo khoản 11 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Về không gian: Khảo sát số liệu thống kê báo cáo trên phạm vi toàn quốc và khảo sát thực tiễn áp dụng thông qua các vụ việc, quyết định cụ thể tại các địa phương: Phú Yên, Đồng Tháp, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Bạc Liêu.
  • Về thời gian: Thu thập và nghiên cứu các quyết định, vụ việc thực tế từ năm 2018 (thời điểm các đạo luật liên quan bắt đầu có hiệu lực thi hành đầy đủ) cho đến năm 2022 (thời điểm hoàn thành khóa luận).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm lý luận dựa trên sự kết hợp giữa ngôn ngữ học pháp lý và khoa học luật hình sự, tố tụng hình sự. Dựa trên định nghĩa "thủ tục" từ Từ điển Tiếng Việt (các bản in năm 2013 và 2019) và phân tích các quan điểm học thuật của các học giả chuyên ngành (GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Trịnh Tiến Việt, Đỗ Ngọc Bình, Đặng Khắc Thắng, Hoàng Xuân Du) cùng giáo trình của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và Đại học Kiểm sát Hà Nội, tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện là cách thức, trình tự tiến hành hoạt động tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân, bao gồm nhiều giai đoạn được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Đề tài cũng so sánh đối chiếu khái niệm "parole" (tạm tha có giám sát/trả tự do có điều kiện) trong pháp luật của Bang Victoria (Úc) và pháp luật Canada nhằm làm rõ tính phổ quát của biện pháp chuyển đổi hình thức chấp hành án từ cơ sở giam giữ sang môi trường cộng đồng có giám sát.

Hệ thống văn bản pháp lý làm nền tảng cho công trình bao gồm hai nhóm:

  • Pháp luật quốc tế: Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 (Điều 55, Điều 56 ghi nhận nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền); nhóm 04 Công ước quốc tế cốt lõi về quyền con người mà Việt Nam tham gia năm 1982, trọng tâm là khoản 3 Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) xác định mục đích cốt lõi của việc giam giữ là cải tạo và tái hòa nhập xã hội; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955 (Standard Minimum Rules for the Treatment of Prisoners), đặc biệt là Quy tắc số 60b đặt ra cơ sở cho việc thiết lập các bước chuyển tiếp tha tù có thử thách dưới sự hỗ trợ xã hội.
  • Pháp luật quốc gia: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005; Chương II Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các Điều 3, Điều 66, Điều 106; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 44, Điều 260, Điều 364, Điều 368); Luật Thi hành án hình sự năm 2019 (các Điều 3, Điều 11, Điều 57); Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC; Thông tư số 12/2018/TT-BCA; Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Công văn số 160/TANDTC-PC ngày 23/07/2018; Công văn số 02/2021/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 giải đáp vướng mắc xét xử; Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và bình luận pháp lý: Sử dụng để phân tích các quy phạm hiện hành trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và văn bản dưới luật, từ đó tổng hợp bản chất pháp lý và mối quan hệ biện chứng giữa thủ tục tố tụng và chế định hình sự nội dung.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu quy định pháp luật: Áp dụng để so sánh sự tương thích và mâu thuẫn giữa các điều khoản trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Thông tư số 12/2018/TT-BCA và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống: Khảo sát, mổ xẻ các vụ việc, bản án, quyết định giải quyết của Tòa án tại các tỉnh Phú Yên, Đồng Tháp, Bình Thuận, Bạc Liêu và TP. Hồ Chí Minh để rút ra các bất cập trong khâu áp dụng pháp luật.

Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ các văn bản pháp luật thực định; báo cáo tổng kết, số liệu thống kê công tác thi hành án hình sự; các bản án, quyết định tha tù hoặc hủy quyết định tha tù của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2018–2022; các ấn phẩm sách chuyên khảo (Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng, Trịnh Tiến Việt), luận văn Thạc sĩ Luật học (Lương Quang năm 2021, Nguyễn Thị Kim Huệ năm 2021) và các bài báo khoa học chuyên ngành trên Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Chương này tập trung làm rõ bản chất lý luận của thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện trong mối quan hệ biện chứng với chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện của luật hình sự. Thủ tục tố tụng đóng vai trò là hình thức thực hiện, phương tiện bắt buộc để chuyển hóa các quy phạm nội dung thành hiện thực. Tác giả khái quát 4 đặc điểm pháp lý cơ bản của thủ tục:

  1. Mang tính quyền lực nhà nước chặt chẽ, do các quy phạm pháp luật công điều chỉnh nhằm đảm bảo việc tha tù không xâm hại đến trật tự, an toàn xã hội.
  2. Đối tượng áp dụng bị giới hạn nghiêm ngặt, chỉ áp dụng cho người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn và phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe về tính chất tội phạm, thời gian chấp hành án thực tế và ý thức cải tạo theo Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  3. Chủ thể tiến hành thủ tục là các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mang quyền lực tư pháp và thi hành án, bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan quản lý/thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cấp tỉnh, cấp quân khu và các cơ sở giam giữ (trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện theo Điều 11 Luật Thi hành án hình sự năm 2019).
  4. Quy trình tố tụng bao gồm nhiều giai đoạn nối tiếp, liên kết chặt chẽ: lập hồ sơ đề nghị, thẩm định hồ sơ, mở phiên họp xét duyệt ban hành quyết định, tổ chức thi hành quyết định (hoặc giải quyết khiếu nại, kháng nghị), và phiên họp xét hủy quyết định nếu người được tha vi phạm nghĩa vụ theo khoản 4 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về mặt ý nghĩa, thủ tục này đóng vai trò quan trọng ở 4 cấp độ: (1) là cơ sở thực thi chế định hình sự; (2) tạo động lực cải tạo, xóa bỏ mặc cảm cho phạm nhân, đặc biệt là nhóm đối tượng chịu án tù chung thân; (3) phát huy trách nhiệm xã hội hóa công tác thi hành án, huy động gia đình và cộng đồng tham gia giám sát, bổ sung nguồn lực lao động; (4) giảm tải ngân sách nhà nước đối với chi phí giam giữ, phục vụ mục tiêu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW. Cơ sở của việc quy định thủ tục được củng cố vững chắc từ chuẩn mực nhân quyền quốc tế (Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Điều 10 ICCPR 1966, Quy tắc 60b Tiêu chuẩn tối thiểu 1955) và chính sách hình sự nhân đạo trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Hình sự năm 2015.

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Chương 2 đi sâu phân tích toàn bộ khung quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh các bước tố tụng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện:

  • Quy định về lập hồ sơ đề nghị: Hoạt động xét tha tù được tiến hành mỗi năm 3 đợt vào các thời điểm: Quý I, 06 tháng đầu năm và cuối năm (theo điểm e khoản 1 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ bao gồm Trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cấp quân khu; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Hồ sơ luật định gồm 7 loại tài liệu cơ bản: Bản án, quyết định có hiệu lực; Quyết định thi hành án; Quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù; Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (đối với tội nghiêm trọng trở lên); Tài liệu chứng minh chấp hành xong hình phạt bổ sung (tiền, án phí, bồi thường thiệt hại); Tài liệu xác định thời gian thực tế đã chấp hành (tính đến ngày họp xét); Văn bản đề nghị của cơ quan có thẩm quyền. Khóa luận phân tích kỹ các tài liệu bổ sung trong các trường hợp ưu tiên (người có công, người khuyết tật, phụ nữ nuôi con nhỏ dưới 36 tháng, người dưới 18 tuổi...).

Tác giả chỉ ra hai hạn chế pháp lý nổi bật trong thành phần hồ sơ:

  • Thứ nhất, bản án theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ ghi nhận tiền án, tiền sự của bị cáo nên không thể hiện được các trường hợp phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đương nhiên xóa án tích theo hướng dẫn về tiêu chí "phạm tội lần đầu" tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP.

  • Thứ hai, Điều 4 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC chỉ công nhận văn bản thỏa thuận của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại để chứng minh hoàn thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, bỏ sót chủ thể nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự. Riêng nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ (vốn không có định lượng thời gian), tác giả phân tích giải đáp tại Công văn số 02/2021/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 của TANDTC đã mở rộng công nhận các trường hợp thực hiện 1 lần, thực hiện một phần hoặc có thỏa thuận miễn thực hiện có xác nhận của cơ quan thẩm quyền.

  • Quy định về thẩm định hồ sơ: Trải qua quy trình 2 bước nghiêm ngặt: Bước 1, cơ sở giam giữ rà soát, chuyển hồ sơ đến Hội đồng thẩm định cấp trên (Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, hoặc Hội đồng xét duyệt Công an cấp tỉnh, quân khu); Bước 2, cơ quan thi hành án hoàn thiện hồ sơ chuyển đồng thời sang Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân cấp tỉnh/quân khu nơi phạm nhân chấp hành án.

  • Quy định về tổ chức phiên họp: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Viện kiểm sát cùng cấp phải ra văn bản thể hiện quan điểm. Cùng thời hạn 15 ngày, Chánh án Tòa án phải mở phiên họp. Hội đồng xét tha tù gồm Chánh án (Chủ tịch) và 02 Thẩm phán. Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trường hợp Chánh án vắng mặt, quyền Chủ tịch Hội đồng được ủy quyền hợp pháp cho Phó Chánh án thực hiện. Phiên họp có sự tham gia bắt buộc của Kiểm sát viên để trình bày quan điểm và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quyết định được ban hành và gửi cho các cơ quan, cá nhân liên quan trong thời hạn 03 ngày.

  • Mâu thuẫn trong thi hành quyết định tha tù: Khóa luận lập bảng so sánh quy định giữa ba văn bản pháp luật hiện hành đang xung đột gay gắt về thời điểm trả tự do cho phạm nhân:

Văn bản quy phạm pháp luật Quy định về thời điểm công bố và tiến hành tha phạm nhân Mốc tính thời gian thử thách
Khoản 9 Điều 368 BLTTHS năm 2015 Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định và thực hiện các thủ tục thi hành. Không quy định cụ thể mốc bắt đầu tính thời gian thử thách.
Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018/TT-BCA Ngay sau khi nhận được quyết định, cơ sở giam giữ công bố quyết định cho phạm nhân biết và tiến hành tha phạm nhân được tha tù. Không quy định cụ thể mốc bắt đầu tính thời gian thử thách.
Điều 57 Luật THAHS năm 2019 Ngay sau khi nhận quyết định thì niêm yết danh sách. Ngay sau khi quyết định tha tù có hiệu lực pháp luật, cơ sở giam giữ mới cấp giấy chứng nhận và tha phạm nhân. Thời gian thử thách được tính từ ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật.

Bảng so sánh trên chứng minh sự bế tắc trong khâu thực thi: nếu áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư số 12/2018/TT-BCA thì phạm nhân được trả tự do ngay khi Tòa án chuyển giao quyết định; nhưng nếu áp dụng Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì phải chờ quyết định có hiệu lực pháp luật (hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị theo khoản 11 Điều 368 BLTTHS là 15 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp, 30 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại các địa phương (Phú Yên, Đồng Tháp, Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh, Bạc Liêu), chương này tổng hợp các kết quả tích cực đã đạt được từ năm 2018, đồng thời bóc tách các nhóm hạn chế, vướng mắc thực tiễn:

  • Sự thiếu nhất quán trong áp dụng pháp luật: Các Tòa án lúng túng giữa việc cho phạm nhân về ngay hay đợi quyết định có hiệu lực pháp luật, dẫn đến nguy cơ xâm phạm quyền tự do của phạm nhân hoặc ngược lại là tha tù khi quyết định chưa có hiệu lực pháp luật (nếu bị Viện kiểm sát kháng nghị thì phát sinh phức tạp trong việc bắt giam trở lại).
  • Thiếu sót về thủ tục xét hủy quyết định tha tù: Theo khoản 4 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015, người được tha cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt hành chính 02 lần trở lên thì bị hủy quyết định. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoàn toàn khuyết thiếu trình tự, thủ tục phiên họp xét hủy và đặc biệt là không quy định sự tham gia, vai trò của Kiểm sát viên Viện kiểm sát tại phiên họp này.
  • Bất cập trong giải quyết khiếu nại của phạm nhân: Phạm nhân có quyền khiếu nại khi không được chấp nhận đề nghị tha tù, nhưng luật chưa phân định rõ thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc Tòa án đã mở phiên họp hay Tòa án cấp trên, cũng như chưa định rõ trình tự, thời hạn và hệ quả pháp lý khi khiếu nại được chấp nhận.
  • Khiếm khuyết của hệ thống biểu mẫu: Các mẫu ban hành kèm Công văn số 160/TANDTC-PC thiếu vắng biểu mẫu cho trường hợp Tòa án ra "Quyết định không chấp nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện" và "Quyết định không chấp nhận hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện", khiến các Tòa án địa phương áp dụng tùy tiện hoặc tự soạn thảo văn bản không đồng nhất.

Từ các vướng mắc trên, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Hoàn thiện quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Sửa đổi khoản 9 Điều 368 theo hướng đồng nhất với Luật Thi hành án hình sự năm 2019, xác định rõ thời điểm tha phạm nhân và thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày quyết định có hiệu lực pháp luật; bổ sung điều khoản quy định rõ thẩm quyền, trình tự phiên họp xét hủy quyết định tha tù với sự tham gia bắt buộc của Viện kiểm sát; luật hóa thủ tục khiếu nại của phạm nhân.
  • Hoàn thiện văn bản dưới luật: Sửa đổi Điều 4 Thông tư liên tịch số 04/2018 bổ sung tư cách nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong văn bản thỏa thuận miễn thi hành nghĩa vụ bồi thường; TANDTC cần ban hành nghị quyết hoặc thông tư thay thế Công văn số 160/TANDTC-PC để bổ sung đầy đủ hệ thống biểu mẫu tố tụng.
  • Giải pháp tổ chức thực hiện: Tăng cường tập huấn nghiệp vụ liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan thi hành án hình sự; nâng cao chất lượng hồ sơ đánh giá, xếp loại phạm nhân tại cơ sở giam giữ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả khoa học và đóng góp cụ thể:

  • Phát hiện và hệ thống hóa xung đột quy phạm: Làm rõ sự mâu thuẫn trực tiếp giữa khoản 9 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018/TT-BCA và khoản 1 Điều 57 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 về thời điểm tha phạm nhân và thời điểm bắt đầu thời gian thử thách.
  • Bóc tách lỗ hổng trong tiêu chí "phạm tội lần đầu": Chỉ rõ bản án sơ thẩm theo khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không đủ căn cứ chứng minh các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP, từ đó đề xuất bổ sung các tài liệu tư pháp liên quan vào hồ sơ đề nghị.
  • Đề xuất bổ sung quy phạm về phiên họp xét hủy và quyền khiếu nại: Khóa luận luận giải sự cần thiết phải bổ sung quy định về sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên họp xét hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại của phạm nhân đối với phán quyết của Hội đồng xét tha tù nhằm đảm bảo quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.
  • Kiến nghị hoàn thiện biểu mẫu tố tụng: Đề xuất Tòa án nhân dân tối cao bổ sung 02 biểu mẫu còn thiếu trong Công văn số 160/TANDTC-PC gồm "Quyết định không chấp nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện" và "Quyết định không chấp nhận hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện".
  • Đóng góp so với các công trình trước: So với các công trình của các tác giả đi trước (Lê Huỳnh Tấn Duy, Lương Quang, Lê Văn Cân, Phạm Văn Tuân, Lê Thị Diễm Hằng), khóa luận đã nghiên cứu chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện dưới góc độ chuyên sâu của luật tố tụng hình sự thay vì chỉ tiếp cận luật hình sự nội dung, đồng thời mở rộng nghiên cứu thực tiễn qua các vụ việc cụ thể tại các địa phương phía Nam (Phú Yên, Đồng Tháp, Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh, Bạc Liêu) giai đoạn 2018–2022.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện khách quan và phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn thời gian khảo sát: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và thực tiễn xét xử trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022, thời điểm chế định mới đi vào thực tiễn áp dụng nên số lượng quyết định hủy quyết định tha tù và số vụ việc giải quyết khiếu nại chưa phản ánh hết mọi tình huống phức tạp có thể nảy sinh lâu dài.
  • Giới hạn không gian: Dữ liệu thực tế và án văn tập trung chủ yếu tại một số tỉnh, thành phố phía Nam (Phú Yên, Đồng Tháp, Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh, Bạc Liêu), chưa bao quát toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trên cả nước.
  • Giới hạn về góc độ tiếp cận: Đề tài tập trung vào góc độ tố tụng hình sự tại giai đoạn Tòa án xét quyết định tha tù, chưa đi sâu phân tích toàn diện khía cạnh quản lý hành chính - xã hội đối với người chấp hành thời gian thử thách tại cộng đồng của chính quyền cấp xã.

Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra bao gồm:

  • Mở rộng đánh giá tác động thực tế của công tác quản lý, giám sát người được tha tù trước thời hạn tại Ủy ban nhân dân cấp xã và đơn vị quân đội trên phạm vi cả nước.
  • Nghiên cứu cơ chế tư pháp chuyên biệt trong việc theo dõi thời gian thử thách và xây dựng quy chế phối hợp tư pháp quốc tế về tha tù có điều kiện đối với phạm nhân mang quốc tịch nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn:

  • Đối với sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng về phương pháp luận nghiên cứu một thủ tục tư pháp trong giai đoạn thi hành án hình sự; là tài liệu đối chiếu hữu ích khi nghiên cứu mối quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức.
  • Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên: Phần phân tích xung đột giữa Điều 368 BLTTHS năm 2015 và Điều 57 Luật THAHS năm 2019, cũng như giải pháp áp dụng biểu mẫu và thẩm quyền của Phó Chánh án (theo Điều 44 BLTTHS) là tài liệu tham khảo trực tiếp giúp xử lý hồ sơ thực tế, hạn chế sai sót tố tụng.
  • Đối với cán bộ thi hành án hình sự tại các Trại giam, Trại tạm giam, Công an cấp huyện: Các bảng tổng hợp và phân tích 7 loại tài liệu hồ sơ, tiêu chuẩn xác định bồi thường thiệt hại (bao gồm nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo Công văn 02/2021/TANDTC-PC) cung cấp các hướng dẫn chi tiết cho công tác lập danh sách và rà soát điều kiện của phạm nhân.

Câu hỏi thường gặp

1. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện có mối quan hệ như thế nào với chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện?

Theo khóa luận, mối quan hệ giữa chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện (luật nội dung) và thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện (luật tố tụng) là mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa nội dung và hình thức. Chế định luật hình sự quyết định sự hình thành và nội dung của thủ tục tố tụng. Ngược lại, thủ tục tố tụng có tính độc lập tương đối, đóng vai trò là công cụ bắt buộc để hiện thực hóa chế định hình sự; nếu không có thủ tục thì chế định tha tù không thể áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên, việc thực hiện thủ tục không đồng nghĩa với việc phạm nhân đương nhiên được tha tù, bởi Hội đồng xét duyệt có quyền ra quyết định không chấp nhận nếu phạm nhân không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện luật định.

2. Thành phần hồ sơ hiện hành gặp khó khăn gì trong việc chứng minh điều kiện "phạm tội lần đầu"?

Điểm a khoản 1 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 yêu cầu người được xét tha tù phải "phạm tội lần đầu". Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn phạm tội lần đầu gồm 4 trường hợp: chưa phạm tội lần nào; đã phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; đã phạm tội nhưng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích. Tuy nhiên, hồ sơ luật định tại khoản 1 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ yêu cầu bản sao Bản án, Quyết định của Tòa án và Quyết định thi hành án. Trong khi đó, theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bản án chỉ ghi nhận tiền án, tiền sự, hoàn toàn không phản ánh thông tin người đó từng được miễn trách nhiệm hình sự hay từng bị đưa vào trường giáo dưỡng, dẫn đến việc cơ quan lập hồ sơ thiếu tài liệu chứng minh chính xác điều kiện này.

3. Sự xung đột pháp luật về thời điểm tha phạm nhân và mốc tính thời gian thử thách diễn ra như thế nào?

Khoản 9 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018/TT-BCA quy định ngay sau khi nhận được quyết định tha tù của Tòa án, cơ sở giam giữ phải công bố quyết định và tiến hành tha phạm nhân. Ngược lại, khoản 1 Điều 57 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định cơ sở giam giữ chỉ niêm yết danh sách khi nhận quyết định, và chỉ được tiến hành tha phạm nhân ngay sau khi quyết định tha tù có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 xác định thời gian thử thách tính từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, trong khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cụ thể mốc thời gian này.

4. Phạm nhân có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là cấp dưỡng định kỳ được xác định là hoàn thành nghĩa vụ khi nào?

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hoặc cha mẹ của người bị hại là nghĩa vụ kéo dài không thể định lượng trước thời gian kết thúc. Căn cứ giải đáp số 5 Mục I Công văn số 02/2021/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 của TANDTC, phạm nhân được coi là đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại để xét tha tù nếu thuộc một trong bốn trường hợp: (1) Đã thực hiện xong hoàn toàn nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án; (2) Đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng 01 lần và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận; (3) Đã thực hiện một phần và có thỏa thuận, xác nhận của đại diện hợp pháp người nhận cấp dưỡng về việc tiếp tục thực hiện hoặc không phải thực hiện nữa; (4) Chưa thực hiện nhưng có văn bản thỏa thuận, xác nhận của đại diện hợp pháp người nhận cấp dưỡng về việc không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

5. Phiên họp xét hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đang tồn tại khoảng trống pháp lý nào?

Theo khoản 4 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu người được tha tù cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách thì Tòa án có thể hủy quyết định tha tù. Dù vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoàn toàn không có điều khoản quy định về trình tự, thủ tục tổ chức phiên họp xét hủy quyết định này. Đáng lưu ý nhất là luật không quy định sự tham gia, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát trong phiên họp xét hủy, tạo nên lỗ hổng lớn trong công tác kiểm sát tư pháp đối với các quyết định tước bỏ quyền tự do đã được cấp cho người chấp hành án.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hồng đã nghiên cứu hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn của thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện theo luật tố tụng hình sự Việt Nam. Công trình đã chỉ rõ những mâu thuẫn quy phạm giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 cùng các văn bản dưới luật về thời điểm thi hành quyết định, thủ tục xét hủy, thành phần hồ sơ và quyền khiếu nại của phạm nhân. Các kiến nghị sửa đổi luật thực định và hoàn thiện biểu mẫu tố tụng được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự và nâng cao tính thống nhất trong hoạt động xét tha tù của Tòa án nhân dân các cấp.