Chương 1: Nhận thức chung về người chưa thành niên phạm tội. Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội. Chương 3: Thực tiễn tố tụng hình sự đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cấo là người chưa thành niên và những giải pháp. NHẬN THỨC CHUNG VỂ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI.
KHÁI NIỆM THỦ TỤC Tố TỤNG Đ ối VỚI NGƯỜI BỊ BẮT, NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI. K h á i niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tộ i tro n g pháp lu ậ t quốc tế. Trẻ em phạm tội và trẻ em làm trái pháp luật được nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới quan tâm, nghiên cứu. Điều 1 phần 1 Công ước về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định: "Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành viên sớm hơn".
Theo Công ước, trẻ em bao gồm tất cả những ai chưa phải là người lớn, nghĩa là những ai dưới 18 tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi được ghi nhận trong Công ước. Bên cạnh Công ước quyền trẻ em thì quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 21/11/1985 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế sử dụng khái niệm này. Quy tắc Bắc Kinh không nêu rõ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi mà chỉ đưa ra khái niệm trẻ em hoặc người ít tuổi. Theo Quy tắc Bắc K inh thì "người chưa thành niên phạm pháp là trẻ em hay người ít tuổi bị cho là hay bị phát hiện là phạm pháp".
Quy tắc cũng định nghĩa "người chưa thành niên" và "phạm pháp" là những nhân tố của "người chưa thành niên phạm tội". Nhưng giới hạn độ tuổi phụ thuộc vào từng hệ thống pháp luật của các quốc gia thành viên. Quy tắc R IY A D H về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể người chưa thành niên nhưng thông qua các quy định chúng ta 6 cũng thấy tinh thần của quy tắc là : người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi vì Quy tắc R IY A D H có nêu "hướng dẫn này phải được giải thích và dược thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của tuyên ngôn thê giới vê quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - chính tr ị - văn hoá - xã hội, Công ước về quyền trẻ em là phạm vi các quy tắc phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên, cũng như các văn kiện và tiêu c lì uẩn khác cố liên quan đến các quyền và lợ i ích, phúc lợ i của các thanh niên. Mà Công ước Quyền trẻ em lại quy định trẻ em là tất cả những ai dưới 18 tuổi.
Như vậy là có quan điểm chung về độ tuổi người chưa thành niên trong các công ước. Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1992 cũng đề cập đến khái niệm người chưa thành niên. Bên cạnh mục đích xác định các quyền của người chưa thành niên bị tước quyền tự do thì Quy tắc còn quy định cách đối xử với trẻ em khi chúng phạm pháp. Tóm lại, các văn bản pháp luật quốc tế tuy có phạm vi nghiên cứu khác nhau song cũng đưa ra quan điểm riêng về khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tội.
K h á i niệm người chưa thành niên phạm tộ i theo pháp lu ậ t V iệt Nam. "Người chưa thành niên phạm tội" là thuật ngữ được sử dụng trong ngành luật hình sự và tố tụng hình sự. Mặc dù BLHS năm 1999,BLTTHS năm 2003 đã dành một chương riêng để quy định về "người chưa thành niên phạm tội" nhưng lại không có một khái niệm pháp lý chính thức nào giải thích thế nào là người chua thành niên phạm tội. Có quan điểm thứ nhất cho rằng "khái niệm người chưa thành niên trong pháp luật hình sự V iệt Nam chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi" [41 ,tr.
Nhưng quan điểm thứ hai trong cuốn “ Toà án và 7 quyền trẻ em” lại phủ nhận quan điểm này vì lý do: BLHS năm 1999 quy định tại điểm n khoản 1 Điểu 48 quy định “ xúi giục người chưa thành niên phạm tội" là tình tiết tăng nặng. Nếu theo quan điểm thứ nhất, chỉ xú i giục người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi mới bị coi là tình tiết tăng nặng? Theo quan điểm thứ hai, khi một người đã thành niên xúi dục người chưa thành niên phạm tội (tức là người dưới 18 tuổi, kể cả người dưới 14 tuổi), người chưa thành niên càng nhỏ tuổi thì trách nhiệm của người xúi dục hoặc sử dụng người chưa thành niên phạm tội càng lớn, càng nguy hiểm hơn. Chính vì vậy mà qua điểm thứ hai không đồng ý với quan điểm thứ nhất. Điều 12 BLHS năm 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “ 1• Người đủ từ 16 tuổ i trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự vê m ọi tộ i phạm.
Người từ đủ 14 tu ổ i trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổ i p h ả i chịu trách nhiệm hình sự về tộ i phạm rấ t nghiêm trọng do c ố ỷ hoặc tộ i phạm đặc biệt nghiêm trọng” , Nghĩa là, ở phương diện độ tuổi tối thiểu để chịu TNHS là 14 tuổi. Như vậy người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật nước ta là người có độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi. V ì thế, cần lưu ý rằng “ người chưa thành niên” theo pháp luật hình sự phải nhìn từ hai góc độ, không nên đồng nhất thuật ngữ “ người chưa thành niên” và “ người chưa thành niên phạm tộ i”. Ở góc độ thứ nhất người chưa thành niên là người bị hại, người bị xúi giục, “ người chưa thành niên” sẽ bao gồm tất cả những người ở độ tuổi dưới 18 tuổi.
Nhìn ở góc độ thứ hai “ người chưa thành niên” bằng năng lực, nhận thức của mình thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, tức là quy định “ người chưa thành niên phạm tộ i” ,thì tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật quy định họ phải đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và tất nhiên là có năng lực TNHS. 8 Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự nói riêng đều thể hiện thống nhất khái niệm người chưa thành niên là để chỉ những người dưới 18 tuổi (còn gọi là người chưa đủ 18 tuổi). Trong độ tuổi người chưa thành niên bao gồm trẻ em là những người chưa đủ 16 tuổi. Trong luật hình sự và tố tụng hình sự, khái niệm người chưa thành niên phạm tội để chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội và những người đó có năng lực TNHS.
Nói cách khác người chưa thành niên phạm tội là những người từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, và những người từ đủ 16 tuổi trở lên những chưa đủ 18 tuổi phạm các tội phạm khác. Việc quy định vấn đề người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự trước hết có ý nghĩa xác định ranh giới giữa tội phạm với không phải là tội phạm. M ột người chưa thành niên chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cho dù hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý đều không phải chịu TNHS. Ngoài ra, quy định vấn đề người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự còn có ý nghĩa thể hiện nguyên tắc cá thể hoá TNHS, nguyên tắc bình đẳng trong luật hình sự, làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt bảo đảm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội.
K h á i niệm th ủ tục tố tụng đối với người b ị bắt, người b ị tạm • « » CD C3 • f cy t « giữ, bị can, b ị cáo là người chưa thành niên phạm tộ i. Người bị bắt bao gồm người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã. Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. 9 Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.
Bị cáo là người bị toà án quyết định đưa ra xét xử. Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên thoả mãn những quy định pháp lý về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng họ đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. V ì vậy, những thủ tục đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên phải được tiến hành theo thủ tục đặc biệt được quy định tại chương X X X II BLTTHS năm 2003. Các quy định này nhằm mục đích đưa ra những thủ tục tố tụng sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên nhằm bảo vệ quyền và lợ i ích hợp pháp trước cơ quan tiến hành tố tụng.
Mặt khác, các quy định này còn nhằm kết hợp hài hoà giữa các biện pháp cưỡng chế và giáo dục, thuyết phục, tạo ra những điều kiện cần thiết để những người chưa thành niên sửa chữa những sai lầm, sớm trở thành người có ích trong xã hội [35 ,tr. Vậy, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên nghĩa là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự đối với họ.